Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
CHỈ SỐ HIĐRO

(cg. chỉ số pH, độ pH), đại lượng đặc trưng cho nồng độ ion hiđro H+ (hay hoạt độ H+ ở dung dịch axit mạnh), trong một dung dịch hay dung môi nào đó. Được kí hiệu là pH, bằng lôgarit thập phân đổi dấu của nồng độ ion hiđro, pH = –lg[H+]; tính bằng mol/l; p là chữ đầu của từ Đan Mạch potenz, nghĩa là luỹ thừa, vì nồng độ thường biểu diễn bằng luỹ thừa (âm) của 10. Khái niệm này do nhà hoá học Đan Mạch Xơrenxen (S. P. L. Sörensen) nêu ra (1909). Người ta xác định pH bằng chất chỉ thị màu hoặc bằng máy đo pH. Đối với dung dịch nước, dung dịch trung tính có pH = 7, dung dịch axit có pH < 7,="" dung="" dịch="" kiềm="" có="" ph=""> 7.

CSH được dùng để kiểm tra nhiều quá trình hoá học và hoá sinh học. Trong nông nghiệp, pH chỉ độ chua, độ kiềm của đất: pH = 4 (rất chua), pH = 5 (chua), pH = 6 (hơi chua), pH = 7 (trung tính), pH = 7,5 (kiềm yếu), pH > 8 (kiềm). Ở Việt Nam, phần lớn đất đồi núi, nhất là đất đồi trọc, đất bạc màu là đất chua nhiều (pH trên dưới 4). Đất trũng, đất lầy thụt phần nhiều là đất chua (pH = 4 - 5). Đất trồng trọt tốt, bón phân tro nhiều thì pH = 4 - 7. Đất phù sa Sông Hồng còn mới, thường kiềm yếu (pH trên dưới 7,5). Một số đất mặn trồng sú vẹt ven biển, đất cát bồi ở Bình Thuận là đất kiềm (pH trên dưới 8). Phần lớn cây trồng ưa đất trung tính (độ pH trên dưới 7). Một số cây có thể mọc bình thường ở đất chua (pH = 4 - 5) như chè, cà phê, thông. Để khử chua cho đất, người ta bón vôi với số lượng nhiều hay ít tuỳ loại đất và cây trồng.