Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
DỰ BÁO KHOA HỌC

 dự kiến, tiên đoán về những sự kiện, hiện tượng, trạng thái nào đó có thể hay nhất định sẽ xảy ra trong tương lai. Theo nghĩa hẹp hơn, đó là sự nghiên cứu khoa học về những triển vọng của một hiện tượng nào đó, chủ yếu là những đánh giá số lượng và chỉ ra khoảng thời gian mà trong đó hiện tượng có thể diễn ra những biến đổi. Là một hình thức của sự tiên đoán khoa học trong lĩnh vực xã hội học, DBKH liên quan đến việc đặt mục đích, kế hoạch hoá, chương trình hoá, quản lí nên lí thuyết mà dự báo dùng làm cơ sở càng hoàn chỉnh thì khả năng dự báo càng chính xác.

Có ba phương thức dự báo cơ bản: ngoại suy, mô hình hoá, giám định. Việc phân chia này chỉ có ý nghĩa tương đối vì trong thực tế người ta còn dùng các phương pháp tương đồng, quy nạp và diễn dịch, các phương pháp thống kê, kinh tế, xã hội học, thực nghiệm, vv. Trên cơ sở lí thuyết và thực tiễn, dự báo đã hình thành từ đầu những năm 60 của thế kỉ 20. Khoa học dự báo với tính cách một ngành khoa học độc lập có hệ thống lí luận, phương pháp luận và phương pháp hệ riêng nhằm nâng cao tính hiệu quả của dự báo. Trong hệ thống vấn đề của khoa học dự báo có việc nghiên cứu các nguyên lí lựa chọn tối ưu những phương pháp dự báo, cách thức đánh giá độ tin cậy của dự báo, nguyên tắc sử dụng những kết luận của lí thuyết xác suất, lí thuyết trò chơi... vào dự báo.

Dự báo xã hội trong nghiên cứu xã hội học là khoa học nghiên cứu những triển vọng cụ thể của một hiện tượng, một sự biến, một quá trình xã hội, để đưa ra dự báo hay dự đoán về tình hình diễn biến phát triển của một xã hội. Thường có dự báo xã hội ngắn hạn cho 1 - 2 năm. Dự báo xã hội trung hạn cho 5 - 10 năm, dự báo xã hội dài hạn 15 - 20 năm.