Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
CHỦ NGHĨA CHỨC NĂNG

lí thuyết trong xã hội học và nhân học phân tích và lí giải các thể chế xã hội chủ yếu về mặt chức năng mà các thể chế ấy thực hiện trong một xã hội được xem như một hệ thống cố kết. CNCN đã có mầm mống ở thế kỉ 19 trong tư tưởng của các nhà xã hội học như Xpenxơ (H. Spencer) và Đuyêckhem (É. Durkheim). Trong thế kỉ 20, CNCN gắn liền với tên tuổi của các nhà xã hội học như Brao (R. Brown; dạng phiên âm khác: Brâunơ), nhà nhân học Malinôpxki (B. Malinowski), Mơtơn (R. K. Merton).

Trong những năm 1950 - 60, một trường phái của CNCN nổi bật lên và chi phối đời sống xã hội học của nhiều nước phương Tây, đặc biệt là trong xã hội học Bắc Mĩ, đó là chủ nghĩa chức năng cấu trúc, nó gắn liền với tên tuổi của Paxơn (T. Parsons). Phương pháp mới này được xác định là phương pháp cấu trúc vì nó xuất phát từ nguyên tắc cho rằng một xã hội là một hệ thống, nghĩa là một tổng thể của những yếu tố lệ thuộc lẫn nhau (các thể chế, các tín ngưỡng, các kĩ thuật, vv.). Các yếu tố này chỉ có ý nghĩa đối với nhau và đối với tổng thể khi chúng lệ thuộc vào nhau. Phương pháp này cũng lại là phương pháp chức năng, vì nó không chỉ quan tâm đến cấu trúc của hệ thống, mà còn quan tâm đến các chức năng do các yếu tố cấu tạo ra. CNCN cấu trúc cũng bị phê phán là các lí thuyết của nó quá chung chung, thủ tục nghiên cứu của nó chỉ quy về việc phân loại, xây dựng các mối quan hệ và vận dụng tam đoạn luận. Song, mặc dù có một số hạn chế, CNCN cấu trúc vẫn có giá trị của một phương pháp nghiên cứu khoa học. Ở nước Anh, về mặt nghiên cứu kinh nghiệm, nó đã sản sinh được những chuyên khảo có giá trị. Ở Hoa Kì, về mặt phương pháp luận nó đã cho phép đặt cơ sở cho một khoa học về các hiện tượng văn hoá, xã hội.