Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
NHÂN, TRÍ, DŨNG

khái niệm đạo đức của Nho giáo về ba đức tính cơ bản của con người. Khổng Tử có câu: “Đạo người quân tử có ba: nhân thì không lo, trí thì không nghi ngờ, dũng thì không sợ” [“Quân tử đạo hữu tam: nhân giả bất ưu, trí giả bất hoặc, dũng giả bất cụ” (“Luận ngữ”, “Hiến vấn”)]. Nhân là lòng thương yêu giúp đỡ người; có “nhân” sẽ không có gì lo buồn, vì đã đem niềm vui cho xung quanh. “Trí” là hiểu biết, phân biệt rõ đúng, sai, hay, dở; có trí sẽ không bị nhầm lẫn, không đi sai đường khiến hư hỏng cuộc đời. “Dũng” là gan dạ, dám vượt mọi khó khăn, gian nguy; có dũng sẽ không biết sợ: không sợ gian lao, không sợ cường quyền, bạo lực cho dù phải hi sinh cả tính mạng cũng vẫn ngang nhiên và kiên trì đi theo con đường mà mình lựa chọn. Lòng nhân nếu đòi hỏi triệt để phải có trí (để tìm cách giúp đỡ người một cách hữu hiệu) và có dũng (gan dạ, kiên trì thực hiện ý định giúp người). Trí cũng vậy, nếu có sự hiểu biết thấu đáo, sẽ thấy không thể không thương yêu người khác; hạnh phúc cá nhân nằm trong hạnh phúc tập thể, và cũng sẽ thấy cần dũng cảm để thực hiện cho được điều mình muốn. “Nhân, trí, dũng” hay “trí, nhân, dũng” - đặt nhân trên trí, hay ngược lại, đặt trí trên nhân là tuỳ theo cá tính mỗi người thiên về tình cảm hay lí trí, nhưng trí hay nhân - đi đến chỗ hoàn thiện thường bao hàm lẫn nhau. Riêng dũng chỉ có giá trị đạo đức khi phục tùng trí và nhân. N,T,D là khái niệm của Nho giáo, nhưng chúng thể hiện đức tính cao đẹp của con người, là sự hỗ trợ lẫn nhau về ba mặt của tâm lí: tình cảm, trí tuệ và ý chí.