Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
NHÂN TỐ LUẬN

(cg. lí thuyết nhân tố), lí thuyết công nhận sự tác động qua lại một cách máy móc của một tập hợp những nhân tố khác nhau (kinh tế, tôn giáo, đạo đức, kĩ thuật, văn hoá, vv.). NTL phản ánh một quan niệm của xã hội học thực chứng, được phổ biến rộng rãi ở Nga và phương Tây cuối thế kỉ 19 như Vebơ M. (M. Weber), Kôvalepxki M. M. (M. M. Kovalevskij). Như vậy là NTL phủ nhận nhất nguyên luận và có những biểu hiện của đa nguyên luận trong xã hội học. Những người chủ trương NTL coi nhiệm vụ chính của khoa học xã hội và khoa học lịch sử là miêu tả các nhân tố xã hội và những sự tác động qua lại giữa các nhân tố đó với nhau; họ không đề cập đến các quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, những mối liên hệ xảy ra bên trong giữa các hiện tượng xã hội. Có khi họ còn phóng đại vai trò của nhân tố chủ quan trong lịch sử.

Hiện nay, NTL vẫn còn tồn tại dưới một hình thức biến dạng. Một số đại diện xã hội học hiện đại thừa nhận kĩ thuật hay công nghiệp như Arông (R.Aron), Rôxtâu (W.W. Rostow) với khái niệm “văn minh công nghiệp”, hoặc Sêpacđơ (Shepard) với khái niệm “văn minh kinh tế” là nhân tố quyết định sự phát triển xã hội. Song, họ lại phóng đại vai trò của nhân tố này, đến mức coi nó là nhân tố duy nhất quyết định sự phát triển xã hội. Những biến thể đó của NTL có nguồn gốc nhận thức luận ở chủ nghĩa thực chứng mới.