Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa

(triết), là lẽ thường, phép tắc thường. Trong triết học Trung Quốc, "lí" dùng để chỉ tổng thể những quy luật về cấu tạo và hoạt động của những vật thể như trong câu: "Muôn vật đều có lí của nó" ("Vạn vật các hữu lí" - Hàn Phi) hay "Muôn vật có lí khác nhau" ("Vạn vật thù lí" - Trang Tử). Từ đời Tống (960 - 1295), với Trình Hạo (Minh Đạo), Trình Di (Y Xuyên), Chu Đôn Di, "lí" trở thành một phạm trù triết học thường được nhắc tới, như nội dung của phái lí học. Với phái học này, lí có những nội dung sau:

1. L là quy luật của cấu tạo và hoạt động của từng vật thể: "Muôn vật đều có lí của nó" ("Vạn vật giai hữu lí" - Trình Hạo); "vật nào vật ấy đều có lí của nó" ("Vật vật giai hữu lí" - Trình Di). Quan điểm này giống như của Hàn PhiTrang Tử nói ở trên.

2. L được mở rộng, trở thành quy luật chung cho mọi vật trong vũ trụ. "Muôn vật đều chung một lí đó. Lí của một vật là lí của muôn vật" ("Vạn vật giai thị nhất lí. Nhất vật chi lí tức vạn vật chi lí" - Trình Di).

3. L này bó buộc phải tuân theo, nếu đi ngược lại sẽ có hậu quả xấu, "Muôn vật đều có lí, thuận theo thì dễ, đi ngược lại thì khó" ("Vạn vật giai hữu lí, thuận chi tắc dị, nghịch chi tắc nan"- Trình Hạo).

4. L là quy luật vĩnh viễn không thay đổi, không có trước có sau, tồn tại mãi như trời, như vũ trụ. "Trời là lí" ("Thiên giả lí dã" - Trình Hạo). "Cái gọi là trời, chỉ là lí mà thôi, cũng không có điểm khởi đầu, không có điểm cuối" ("Sở vị thiên giả, lí nhi dĩ... diệc vô thuỷ, diệc vô chung" - Tả Lương Tá, môn đệ giỏi của hai anh em Trình Hạo và Trình Di).

5. L là quy luật điều khiển cả những quan hệ xã hội như vua tôi, cha con: "Vật nào cũng có lí của nó, như lửa do đâu mà nóng, nước do đâu mà lạnh, cho đến giữa vua và tôi, cha và con, đều là lí" ("Vật vật giai hữu lí, như hoả chi sở dĩ nhiệt, thuỷ chi sở dĩ hàn, chí vu quân thần phụ tử chi gian giai thị lí" - Trình Di). Về L giữa các quan hệ xã hội nói trên, Trình Di định nói tới đạo trung của tôi với vua, và đạo hiếu của con với cha. Thế lực vua quan phong kiến trước đây đã lợi dụng quan điểm lí học này của Tống Nho để bảo vệ nền tảng của chế độ quân chủ coi như đạo lí muôn đời không thay đổi.