Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
LÔGIC KÍ HIỆU

thuật ngữ do nhà lôgic học người Anh Ven (J. Venn) đề xuất. Về sau được nhiều người, nhất là ở Hoa Kì, ưa chuộng. Thực chất là lôgic toán.

 Thuật ngữ LKH chỉ nhấn mạnh tính kí hiệu tượng trưng của các phương tiện và công thức lôgic toán, không nói lên bản chất đặc thù riêng của lôgic toán. Vấn đề là ở chỗ, lôgic hình thức nói chung đều sử dụng phương pháp kí hiệu tượng trưng - một biểu hiện quan trọng của phương pháp hình thức hoá.

Về phương diện này, lôgic toán chỉ khác với lôgic hình thức truyền thống ở mức độ và quy mô kí hiệu hoá mà thôi. Vd. kí hiệu hoá phán đoán. Loại phán đoán đơn, đặc tính nhất quyết khẳng định bộ phận, chẳng hạn như "một số đoàn viên thanh niên là đảng viên" trong lôgic hình thức truyền thống được kí hiệu dưới dạng "một số S là P" hay bằng chữ "I". Lôgic toán tiếp tục quá trình kí hiệu hoá này và làm triệt để hơn. Kết quả thu được hình thức lôgic toán của loại phán đoán nêu trên là:

$x(S(x)  P(x))

Trong đó, $ là kí hiệu lượng từ bộ phận; x - kí hiệu biến đối tượng; S(x) và P(x) - kí hiệu các vị từ;  - kí hiệu phép hội.