Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
GIÁC TÍNH

một trong những khái niệm thuộc lĩnh vực nhận thức luận nói về trình độ nhận thức, sự hiểu biết của con người trong quá trình đi từ cảm tính đến lí tính. Kantơ I. (I. Kant) cho rằng: "Tất cả hiểu biết của chúng ta bắt đầu từ các cảm giác, từ đó đi đến giác tính và hoàn tất ở lí tính".

Khác với cảm tính là sự hiểu biết trực tiếp, trực quan thông qua các giác quan, GT là sự hiểu biết thu được từ hoạt động của tư duy trừu tượng, hình thành các khái niệm, suy lí, phán đoán, ..., qua đó phát hiện ra nội dung ẩn dấu bên trong, bản chất của sự vật. Các nhà triết học thời cận đại ở phương tây như Đêcac (R. Descartes), Xpinôza (B. Spinoza), Laibnit (G. W. Leibniz)... đều có bàn về GT. Đi đôi với sự phát triển của các khoa học thực nghiệm, GT là một bước tiến lớn của năng lực nhận thức so với cảm tính. Chỗ hạn chế của GT là hướng về sự đồng nhất trừu tượng, cường điệu sự khác biệt, phân biệt, coi nó như là dấu hiệu cao của tính khoa học. GT chủ yếu dừng lại ở những quy luật của lôgic hình thức. GT cũng chưa giải quyết được đúng đắn sự thống nhất biện chứng giữa hoạt động thực tiễn (hoạt động đối tượng - cảm tính) và hoạt động lí luận (hoạt động tư duy trừu tượng) phái sinh từ hoạt động thực tiễn. GT là bước đi tất yếu, chuẩn bị các tiền đề và đặt ra các yêu cầu mới, thúc đẩy nhận thức đạt đến trình độ lí tính. Xt. Lí tính.