Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
TÍNH THIỆN, TÍNH ÁC

đề tài tranh luận trong lịch sử tư tưởng cổ đại Trung Quốc về tính người. Mạnh Tử (Mengzi) đề ra thuyết tính thiện: con người vốn có lòng trắc ẩn, đó là nhân, lòng thẹn - ghét đó là nghĩa, lòng cung kính đó là lễ, lòng biết phải trái đó là trí. Nhân, nghĩa, lễ, trí là cái vốn có trong con người, không phải từ ngoài vào. Vì vậy, tu nhân là trở về với tính, cầu lại cái tâm đã mất (bị ngoại vật làm mê hoặc). Tuân Tử (Xunzi) đề ra thuyết tính ác: tính là do tự nhiên, lễ nghĩa là do con người; tính người vốn ác: mắt ham sắc, tai ham thanh âm, miệng ham miếng ngon, tâm ham điều lợi, thân ham nhàn rỗi. Vì vậy, phải lấy lễ nghĩa mà cải tạo, tiết chế tính. Thuyết tính thiện cho đạo đức là tiên thiên, làm cơ sở triết học cho thuyết nhân chính: lấy đạo đức, lễ nghĩa mà giáo hoá (nên cũng gọi là đức trị, lễ trị). Thuyết tính ác cho đạo đức là hậu thiên, làm luận chứng cho thuyết pháp trị: lấy pháp luật, hình phạt mà khuất phục. Đức trị là chủ trương của Nho gia. Đời Hán, tư tưởng của Nho gia chiếm địa vị độc tôn, tuy đề cao đức trị, nhưng thực tế vẫn tận dụng pháp luật, mệnh lệnh đó chẳng qua là "ngoài Nho, trong pháp". Vấn đề TT, TA đã được đặt ra và giải quyết một cách siêu hình, phiến diện: xem xét tính người tách rời với môi trường xã hội, không thấy tính đạo đức (thành phần quan trọng của tính người) chính là biểu hiện bản chất xã hội của con người. Trẻ sơ sinh đã là người - có tính người, song mới là con người dự bị, nó cần học thành người; chỉ có cuộc sống trong xã hội, do kết quả của giáo dục, học tập, đứa trẻ mới trở thành nhân cách, có tính người thực sự, thực tại. Mặt khác, chính con người là kẻ tạo ra điều thiện cũng như điều ác. Sự phát triển của con người, xét về mặt phát triển cá thể cũng như phát triển chủng hệ, là theo một xu hướng chung: không ngừng hoàn thiện mình, tức là hoàn thiện tính người của mình.