Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
HAIĐÊGƠ M.

(Martin Heidegger; 1889 - 1976), nhà triết học Đức, người đóng vai trò quyết định trong việc hình thành và phát triển chủ nghĩa hiện sinh; là học trò của Huxen  E. (E. Husserl), bảo vệ luận án tiến sĩ triết học ở Trường Đại học Fraibua (Freiburg, 1915), được bổ nhiệm làm phó giáo sư Trường Đại học Fraibua; sau đó làm giáo sư thay Huxen, rồi làm hiệu trưởng (1933). Gia nhập Đảng Quốc xã nhưng từ 1934, đã giữ khoảng cách xa dần với đảng này và từ chức hiệu trưởng. Là một nhà triết học theo chủ nghiã hiện sinh, Haiđêgơ có ảnh hưởng lớn đến các nhà triết học theo chủ nghiã hiện sinh sau đó như Xactơrơ J. P. (J. P. Sartre) và Camuy A. (A. Camus).

Khi mô tả về hiện thực con người, sự đối lập trong lịch sử triết học cuả những đặc tính bản thể luận với những đặc tính nhận thức luận, Haiđêgơ cho rằng triết học không được coi con người chỉ là đối tượng, mà còn phải coi nó như một "hiện hữu trong thế giới". Trong việc mô tả con người, Haiđêgơ đã chịu ảnh hưởng của Huxen và hiện tượng học của nhà triết học này. Phạm trù chính của triết học Haiđêgơ là tính thời gian, được Haiđêgơ hiểu là cảm nghĩ bên trong con người. Theo Haiđêgơ thì tâm trạng, những lo lắng, băn khoăn, kinh hoàng... tạo thành cái tồn tại chủ quan của con người. Để nắm được ý nghĩa của tồn tại, con người cần phải tự mình từ bỏ những mục đích thực tiễn của mình, cần phải nhận thức được tính không vĩnh hằng và tính phù sinh của mình. Trong triết học của Haiđêgơ, chỉ khi cảm thấy mình luôn luôn đứng trước cái chết, con người mới có khả năng nhìn thấy giá trị và sự phong phú của từng giây từng phút của cuộc đời và mới thoát ra khỏi các mục đích, các lí tưởng, các trừu tượng khoa học. Triết học Haiđêgơ kết hợp thành một khối các xu hướng phi lí từ triết học Kiêckơgôt X.  Ô. (S. A. Kierkegaard), từ triết học đời sống và từ hiện tượng học Huxen. Tác phẩm chính: "Tồn tại và thời gian" (1927), "Siêu hình học là gì?" (1929), "Kantơ và vấn đề siêu hình học", "Về bản chất của chân lí" (1932), "Thư về chủ nghĩa nhân đạo" (1947), "Những con đường không đưa tới đâu" (1950), "Tư duy là gì?" (1954), "Nitsơ" (1969), vv.