Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
THỂ VÀ DỤNG

cặp phạm trù trong triết học Trung Quốc cổ đại. Theo hàm nghĩa vốn có, thể là bản thể, thực thể; dụng là tác dụng, công dụng. Tuân Tử viết: "Vạn vật cùng ở trong không gian mà khác thể, không hợp nhau mà có dụng", ở đây thể là hình thể, dụng là công dụng. Thời Nam Bắc triều, Phạm Chẩn đề xuất "hình là chất, thần là dụng; hình là chất, hình chất có nghĩa là thực thể, tinh thần là tác dụng của hình chất, "hình còn thì thần còn, hình mất thì thần diệt" (Thần diệt luận). Thời Đường (Tang), các phái Phật giáo dùng phạm trù TVD theo hàm nghĩa là bản thể và hiện tượng, cuối cùng quy tất cả thành một bản thể tinh thần bất biến, gọi là tâm, thức, chân như, Phật tính. Chu Hy (Zhu Xi), nhà lí học đời Tống (Song), cho lí là thể, tượng là dụng. Các nhà duy tâm, tuy lấy tâm hay lí làm bản thể, song cũng thừa nhận TVD cùng một nguồn, không tách rời nhau ["thể dụng nhất nguyên", Trình Di (Cheng Yi)]. Các nhà duy vật [Trương Tải (Zhang Zai), Vương Phu Chi (Wang Fuzhi)] kế thừa quan điểm duy vật về TVD, cho thể là thực thể vật chất (gọi là khí), dụng là tác dụng, công dụng, thuộc tính (gọi là lí, hay đạo), nhưng cũng xem quan hệ TVD theo nghĩa là bản chất và hiện tượng; trái với các nhà duy tâm trọng thể mà khinh dụng, Vương Phu Chi nêu ra phương pháp "từ dụng mà biết thể", đó là phương pháp nhận thức khoa học. Thời cận đại, Trương Chi Động (Zhang Zhidong) đề xuất "lấy Trung học làm thể, lấy Tây học làm dụng", ý nói là chính và phụ. Nghiêm Phục (Yan Fu) bác lại: "thể và dụng là nói về một vật. Có thể là con trâu thì có cái dụng là vác nặng; có thể là con ngựa thì có cái dụng là chuyên chở. Chưa từng nghe lấy trâu làm thể, lấy ngựa làm dụng bao giờ". Tôn Trung Sơn (Sun Zhongshan) trực tiếp dùng TVD để thuyết minh quan hệ vật chất và tinh thần: "Người có thân thể, ngũ quan và xương cốt đều là thể, thuộc vật chất; khả năng nói năng, động tác, đó là dụng, do tinh thần tạo ra".