Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
TÂM

phạm trù quan trọng trong triết học phương Đông, chỉ ý thức chủ quan của con người. Phật giáo cho T là chủ của mọi hoạt động tinh thần của con người, bao hàm cả ý (năng lực suy nghĩ, phân biệt với năng lực hành động) và thức (năng lực biện biệt đối với các hiện tượng). Triết lí nhân sinh của Phật giáo đều duy tâm, vd. "ba nghìn thế giới ở trong một mối nghĩ của tâm", "chỉ có nhận thức, không có ngoại cảnh", "tâm là nguyên nhân của trần ai" (tức là của các hiện tượng).

Nho giáo thời cổ đại trọng chữ T, với hàm nghĩa chủ yếu là ý thức đạo đức. Khổng Tử (Kongzi) dạy mọi người phải tự tỉnh (xét mình), nội tỉnh (xét nội tâm). Mạnh Tử (Mengzi) chủ trương dưỡng tâm: T chứa đủ các đầu mối của nhân, nghĩa, lễ, trí; chỉ cần phát huy hết bản tâm của mình thì biết được tính, biết được trời (tận tâm, tri tính, tri thiên). Các nhà nho về sau có bàn về T với hàm nghĩa là năng lực nhận thức ngoại vật, phần nhiều theo lập trường duy tâm. Chu Hy (Chu Xi) cho lí là gốc của muôn vật, nhưng lại nói "vạn lí đều có đủ trong một tâm". Lục Cửu Uyên (Lu Jiuyuan) phát triển: "lí đầy rẫy trong vũ trụ là ở trong tâm của con người", như vậy là đã lấy cái chủ quan (T) mà thôn tính cái khách quan (lí). Vương Thủ Nhân (Wang Shouren) đẩy đến cực đoan: "ngoài tâm không có vật, ngoài tâm không có sự, ngoài tâm không có lí", cho tâm là bản thể tối cao, "tâm là đạo, đạo là trời". Các nhà duy vật [Tuân Tử (Xunzi), Vương Sung (Wang Chong), Vương Phu Chi (Wang Fuzhi)...] cho rằng T của con người xuất phát từ cảm giác mà phân tích, suy xét, đi đến hiểu biết.

Trong ngôn ngữ đời thường, chữ T thường chỉ ý thức đạo đức ("Thiện căn ở tại lòng ta, chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài", Nguyễn Du).