Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
CHỦ NGHĨA ĐACUYN

lí thuyết duy vật về sự tiến hoá của thế giới hữu cơ do nhà tự nhiên học người Anh Đacuyn (C. Darwin) đặt cơ sở và được nhiều nhà sinh học phát triển. Đacuyn chỉ ra những yếu tố vật chất của sự tiến hoá - chọn lọc tự nhiên đối với các loài hoang dã và chọn lọc nhân tạo đối với gia súc và cây trồng do con người nuôi trồng. Sự khác biệt căn bản của CNĐ với những quan niệm tiến hoá và biến thái trước đó là ở chỗ nó vạch ra yếu tố động lực và nguyên nhân của sự tiến hoá. Yếu tố chủ yếu của sự tiến hoá trong thiên nhiên là chọn lọc tự nhiên. Theo Đacuyn, chọn lọc tự nhiên là "sự sống sót của các cơ thể thích nghi hơn cả". Nhờ đó trên cơ sở của biến dị không xác định trong hàng loạt thế hệ, diễn ra sự tiến hoá. Trong cuộc đấu tranh sinh tồn, ở đó thể hiện sự tác động lẫn nhau giữa cơ thể và môi trường xung quanh [xt. Đacuyn (Học thuyết)]. Cơ thể nào thích nghi hơn với những điều kiện môi trường thì tồn tại. Luận điểm quan trọng nhất của CNĐ là tính tương đối của sự hợp lí hữu cơ; tính thích nghi của các cơ thể với điều kiện môi trường bên ngoài, tính hợp lí của cấu tạo và chức năng của chúng là không hoàn thiện. Điều đó buộc các cơ thể phải không ngừng tự hoàn thiện trong quá trình chọn lọc.

CNĐ kế thừa các quan điểm khoa học tự nhiên của Linê (C. von Linné), Bonê (Ch. Bonnet), Buyfiê (C. Buffier), Lamac (J. B. Lamarck), Quyviê (G. Cuvier), đặc biệt là quan điểm tiến hoá trong địa chất học của Laien (Ch. Lyell). Trong cuộc khủng hoảng từ 1859 đến 1862, lí thuyết tiến hoá đã được mọi người thừa nhận. Tuy nhiên, sau đó, lí thuyết này không ngừng bị tấn công từ nhiều lập trường khác nhau (thần tạo, tăng lữ, ngoại sinh, nội sinh). Điểm chung của các quan điểm đó là không thừa nhận hoặc hạn chế tối đa vai trò của chọn lọc tự nhiên trong quá trình tiến hoá. Tuy nhiên, sự phê phán của những người chống CNĐ cũng làm lộ ra một số điểm yếu của lí thuyết này. Nhiều công trình khoa học đã tạo ra tiền đề cho sự hình thành "lí thuyết về tiến hoá tổng hợp" vào cuối những năm 30 thế kỉ 20, trong đó kết hợp những thành tựu của CNĐ và di truyền học hiện đại. Vào những năm 40, lí thuyết này được tuyệt đại đa số các nhà khoa học tự nhiên thừa nhận. CNĐ cổ điển đã đi vào lí thuyết về tiến hoá tổng hợp như bộ phận hợp thành quan trọng nhất của nó. Vào những năm 60, xuất hiện bộ môn tổng hợp mới: sinh học tiến hoá, trong đó có ngành tiến hoá phân tử.