Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
CHỦ NGHĨA CỔ ĐIỂN

trào lưu văn học nghệ thuật xuất hiện trước tiên ở Pháp vào thế kỉ 17 dưới triều vua Lu-i XIV (Louis XIV) trong thời kì hưng thịnh nhất của chế độ phong kiến. Trong văn học, CNCĐ chủ trương khai thác những mẫu mực của thơ và kịch Hi Lạp đã được Arixtôt (Aristote) đúc kết thành lí luận hoàn chỉnh trong cuốn "Thi học". CNCĐ rất coi trọng các quy phạm và ước lệ về mặt hình thức, vd. kết cấu chặt chẽ, thi pháp mẫu mực (thơ 12 chân, từ ngữ chính xác, trang trọng); tuân theo luật "tam duy nhất" trong kịch, duy nhất về hành động kịch, về thời gian (diễn ra đúng 24 tiếng), về địa điểm (chỉ diễn ra ở một địa điểm). Về mặt nội dung, CNCĐ nêu cao vai trò của lí trí và tính mô phạm của các nhân vật anh hùng; ca ngợi sự chiến thắng của ý thức nghĩa vụ đối với các tình cảm và dục vọng cá nhân. Về thể loại, bi kịch và hài kịch là hai thể loại ưu việt của CNCĐ với những nhà soạn kịch đạt đỉnh cao của vinh quang: bi kịch có Coocnây (P. Corneille) và Raxin (J. Racine), hài kịch có Môlie (J. B. Molière).

Bi kịch cổ điển chủ nghĩa thường hạn chế khung cảnh của kịch trong phạm vi các cung đình, các thành thị và thường khai thác các tích thần thoại của Hi Lạp, các sự tích La Mã và các dã sử của Tây Ban Nha. Nhưng với Môlie, hài kịch đã đi sát đời sống xã hội đương thời, gần gũi với nhân dân, quần chúng. Đối tượng chế giễu và đả kích của ông là những tên tư sản keo kiệt "học làm sang", những triết gia rởm, những tên đạo đức giả... Riêng La Fôngten (La Fontaine) lại chuyên về lĩnh vực ngụ ngôn. Ông khai thác mọi đề tài trong đời thường của con người và mô phỏng ngụ ngôn của Êdôp (Ésope) kể cả cách nhân cách hoá động vật. Ông đã làm hàng trăm bài thơ ngụ ngôn ngắn gọn mang tính hài hước nhẹ nhàng nhưng chứa đựng những ẩn ý răn dạy sâu sắc. Như vậy, tuy gọi chung là CNCĐ nhưng nó không phải là một khuynh hướng thuần nhất.

Ở Đức, thế kỉ 18 cũng xuất hiện một trào lưu được các nhà lí luận gọi là CNCĐ Đức. Khác với CNCĐ Pháp, văn học cổ điển chủ nghĩa Đức mà đại diện là Guêthơ (J. W. Goethe), Silơ (F. Schiller), Lexinh (G. E. Lessing) đã có một bước phát triển mới về cách nhìn nhận con người và thế giới, chủ đề mang ý nghĩa xã hội và khuynh hướng trí tuệ, triết lí sâu sắc. Cũng trong thời gian đó, thiên hướng lãng mạn chủ nghĩa đã xuất hiện trong kịch và tiểu thuyết. Bởi vậy, Guêthơ và Silơ cũng được nhiều nhà lí luận xếp vào hàng ngũ những nhà văn lãng mạn lớn của thế giới.

Về hội hoạ, CNCĐ cũng ra đời ở thế kỉ 17. Nó lấy những yếu tố tạo hình làm gốc, chú trọng xây dựng tính ổn định, tính bền vững và tính vĩnh cửu, hướng về cái đẹp lí tưởng theo tinh thần của chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng. Hai hoạ sĩ mở đầu cho CNCĐ là Puxanh (N. Poussin) và Lôranh (Le Lorrain). Các tranh của Puxanh về hải cảng, cảnh hoang tàn, lâu đài, biển... đều được chiếu rọi bởi một thứ ánh sáng kì diệu được diễn tả trên mọi dạng thức: tinh mơ, bình minh, hoàng hôn, sẩm tối. Lôranh chuyên vẽ phong cảnh với ánh sáng đối chọi mà ánh sáng là đối tượng chủ yếu. Ánh sáng vàng, bạc, huyền ảo và Mặt Trời chói lọi là đặc điểm của hầu hết tranh của ông. CNCĐ trong hội hoạ đạt đỉnh cao nhất của nó với hoạ sĩ Pháp Lơbroong (C. Lebrun).

Về điêu khắc, sự mô phỏng điêu khắc cổ đại càng nặng nề với Giracđông (F. Girardon), người đã trang hoàng công viên Vecxay (Versailles). Chỉ có một số tác phẩm của Puygiê (P. Puget), Uđông (J. A. Houdon) là còn mang hơi thở của đời sống.

Vào cuối thế kỉ 17, sự thắng thế của những nghệ sĩ theo phái Ruben đã cho ta thấy rõ tính tiêu cực của những giáo điều nảy sinh trong hội hoạ trước sức sống mãnh liệt của thiên nhiên và cuộc sống.

Điển hình của âm nhạc cổ điển chủ nghĩa là nghệ thuật ôpêra hoành tráng, đồ sộ dựa trên chủ đề của hình thức cổ cùng với lối hát nói truyền cảm và đầy kịch tính, tương tự với phong cách khoa trương của sân khấu kịch Pháp; đôi khi có những aria kiểu ca khúc, đồng thời là hợp xướng, ba lê và những dàn cảnh gây hiệu quả sân khấu hơn. Đại diện lớn nhất của CNCĐ trong nghệ thuật ôpêra thời kì tiền cách mạng là Gluc (C. W. Gluck), người đã thực hiện cuộc cải cách cơ bản những thể loại âm nhạc sân khấu cung đình - ôpêra nghiêm túc của Italia và bi kịch trữ tình Pháp. Trong rất nhiều mặt, nghệ thuật của các nhạc sĩ trường phái Viên [Hayđơn (J.  Haydn), Môza (W. A. Mozart), Bêthôven (L. van Beethoven)] cũng giống với CNCĐ. Thường thường người ta vẫn xác định trường phái đó bằng từ ngữ "CNCĐ" bởi những đặc điểm giống với nghệ thuật cổ điển xưa.

Vào khoảng cuối thế kỉ 18, ở Châu Âu xuất hiện một khuynh hướng văn nghệ được gọi là "tân cổ điển" cố gắng làm sống lại CNCĐ theo tinh thần đổi mới của thời đại đương thời.

Chặng đường phát triển mới của CNCĐ gắn liền bởi khuynh hướng tư tưởng nghệ thuật tiến bộ của thế kỉ Ánh sáng ở Pháp và một số nước khác ở Châu Âu. Được diễn đạt một cách sâu sắc trong các tác phẩm nghệ thuật là những lí tưởng cao cả về đạo lí công dân, tình hữu nghị, chủ nghĩa anh hùng vì quyền lợi nhân dân. Sự dung dị và tính chân thực được nêu lên như là những nguyên lí tối cao của nghệ thuật.