Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
CHU HY

[Zhu Xi; cg. Chu Tử (Zhuzi); 1130 - 1200], nhà triết học Trung Quốc thời Nam Tống (Nan Song). Phát triển học thuyết lí - khí của Trình Hạo (Cheng Hao) và Trình Di (Cheng Yi). Đã đưa lí học lên thành một hệ thống duy tâm khách quan hoàn chỉnh, được gọi là học phái Trình Chu (Cheng Zhu). Theo Chu Hy, lí và khí không tách rời nhau: "trong thiên hạ, không hề có khí mà không có lí, cũng không hề có lí mà không có khí". Nhưng lại khẳng định "trước khi có trời đất đã có lí" ("Chu Tử ngữ loại", cuốn 1), "lí có trước, khí có sau", "có lí này thì có khí này, nhưng lí là gốc". Đã thừa kế quan điểm "nhất vật lưỡng thể" của Trương Tải (Zhang Zai), cho rằng "Phàm là vật thì không đâu là không tương phản để tương thành", vật chỉ là "một chia thành hai, mỗi bước đều như thế, cho đến cùng, tất cả đều là một sinh hai" ("Chu Tử ngữ loại", cuốn 17). Cho rằng sự vật vận động qua hai hình thức: "hoá" và "biến", "hoá" là biến đổi từ từ, chậm chạp; "biến" là biến đổi đột xuất, nhanh chóng. Về quan hệ tri hành thì cho tri trước hành sau, nhưng xét về tầm quan trọng thì cho hành quan trọng hơn tri và nhấn mạnh vai trò của hành trong nhận thức. Về vấn đề tính người thì cho rằng thánh hiền bẩm thụ khí trong, kẻ ngu hèn bẩm thụ khí đục, cho rằng con người thì có tính thiên mệnh (đạo tâm) và tính khí chất (nhân tâm). Nhấn mạnh sự đối lập giữa "thiên lí" và "nhân dục", chủ trương vứt bỏ "tư dục" và phục tòng "thiên lí". Về quan niệm lịch sử, Chu Hy cho rằng thời cổ đại lưu hành thiên lí, còn thời sau thì thiên lí mất đi và nhân dục xuất hiện càng ngày càng nhiều. Lí học Chu Hy có ảnh hưởng lớn về sau ở Trung Quốc và trở thành tông phái chính của Nho học thời Minh - Thanh. Học thuyết của Chu Hy cũng đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nước khác ở Á Đông. Ở Việt Nam, thế kỉ 16 - 18, các nội dung lí học của Chu Hy thường được nhắc tới. Ở Nhật Bản, vào thời Đức Xuyên (1603 - 1867) việc nghiên cứu Chu Tử (Chu Tử học) rất thịnh hành.