Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
CHỦ NGHĨA THỰC CHỨNG

 khuynh hướng của triết học và xã hội học hiện đại bắt nguồn từ tên một cuốn sách của Côngtơ (A. Comte) về triết học thực chứng thế kỉ 19. CNTC cho rằng chỉ có phương pháp của các khoa học thực chứng mới đem lại kiến thức chân chính và chỉ có sự phát triển của các khoa học mới đem lại hạnh phúc cho nhân loại. Nó phủ nhận giá trị nhận thức của nghiên cứu triết học. Sự xuất hiện của CNTC là sự phản ứng đặc thù đối với sự bất lực của triết học tư biện, của siêu hình học đã không giải quyết nổi các vấn đề triết học do sự phát triển của các khoa học đặt ra. Song, CNTC lại rơi vào một cực đoan khác: nó bác bỏ hoàn toàn sự suy luận lí luận với tư cách là một phương tiện thu nhận kiến thức. Các vấn đề, các khái niệm phạm trù triết học như tồn tại, bản chất, nguyên nhân…, vì không thể được giải quyết hoặc kiểm nghiệm bằng kinh nghiệm do tính trừu tượng cao của chúng, nên bị CNTC coi là không có nghĩa, là sai lầm.

Có thể phân CNTC thành ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là CNTC của Côngtơ, Litơrê (M. P. E. Littré); Min (J. S. Mill), Xpenxơ (H. Spencer). Giai đoạn thứ hai là chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, xuất hiện trong những năm 1870 - 90, gắn liền với tên tuổi của Makhơ (E. Mach) và Avênariut (Avenarius). Với quan niệm sự vật là những "phức hợp cảm giác", những "yếu tố", họ bác bỏ các khái niệm tính nhân quả, thực thể, tính tất yếu, CNTC ở trường phái này đã trở thành một thứ chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Giai đoạn thứ ba là CNTC mới; hay là hình thức hiện đại của CNTC thế kỉ 20. CNTC mới cho rằng tri thức về thực tại có trong tư duy hằng ngày hay là trong tư duy khoa học cụ thể, còn triết học chỉ có nhiệm vụ phân tích ngôn ngữ dùng để biểu hiện các kết quả của dạng tư duy này. Các đại biểu của CNTC mới gồm có nhóm Viên, nhóm này sau phát triển thành nhiều khuynh hướng như CNTC lôgic, Hội triết học kinh nghiệm ở Beclin, các nhà triết học phân tích ở Anh, các nhà triết học của khoa học ở Hoa Kì, các nhà "kinh nghiệm lôgic", các nhà triết học ngôn ngữ học.

CNTC lôgic xuất hiện trong những năm 20, các đại biểu của nó là Slich (M. Schlick), Cacnap (R. Carnap), Vitghenstên (L. Wittgenstein), Raikhenbăc (H. Reichenbach; 1891 - 1953), Ayơ (A. J. Ayer), vv. Trên đại thể, CNTC lôgic đã nêu lên những luận điểm: 1) Mục đích triết học không phải là sản xuất ra một kiến thức, mà là làm sáng tỏ ý nghĩa của các mệnh đề. 2) Tất cả các mệnh đề có ý nghĩa phải được diễn tả một ngôn ngữ lôgic.

Vào những năm 30, đã diễn ra sự hoà nhập về mặt tư tưởng tổ chức khoa học giữa các nhóm khác nhau và những nhà triết học có quan điểm thực chứng mới. CNTC mới có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nhà khoa học ở các nước phương Tây. Những người theo CNTC mới cũng đạt được tới những kết quả cụ thể về lôgic hình thức và về một số vấn đề phương pháp luận khoa học. Đến cuối những năm 30, Hoa Kì đã trở thành trung tâm chính của CNTC mới, mà đại diện tiêu biểu là chủ nghĩa kinh nghiệm lôgic (x. Chủ nghĩa kinh nghiệm logic). Ở nước Anh, CNTC mới biểu hiện chủ yếu dưới dạng triết học ngôn ngữ. Hiện nay, CNTC mới chuyển trọng tâm vào những công trình nghiên cứu phương pháp luận lôgic cụ thể. Trong xã hội học, CNTC là tiền đề lí luận cho việc đi sâu, củng cố và hoàn thiện các phương pháp điều tra, phân tích, thống kê và xử lí điều tra.