Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
CÁCH VẬT TRÍ TRI

1. Nhận thức luận triết học thời Tống (Song), Minh (Ming) ở Trung Quốc. Nguồn gốc ở chương Lễ kí trong cuốn "Đại học" của Tăng Sâm (Zeng Cen), đồ đệ xuất sắc của Khổng Tử (Kongzi). Nguyên văn là "Trí tri tại cách vật, vật cách nhi hậu tri chí" (trí thức biết được do tiếp xúc với sự vật, vật được tiếp xúc rồi sau đó tri thức mới đến), nói tắt là "Cách trí". Đây là mệnh đề về phương pháp tu dưỡng đạo đức về các mặt thành ý, chính tâm, tu thân. Trịnh Huyền (Zheng Xuan) đời Đông Hán (Donghan) chú giải: "Cách là đến cùng, vật như là sự vật". Nhưng từ đời Tống về sau, có nhiều cách giải thích. Phái duy tâm Trình - Chu (Cheng - Zhu) đời Tống nhấn mạnh rằng tri thức vốn có ở con người, nhưng ảnh hưởng của vật dụng làm cho mất đi, cần phải "cách vật" hoặc "tức vật cùng lí" để lấy lại. Trình Di (Cheng Yi) giải thích: "Cách như là xét đến cùng, vật như là lí. Như vậy là xét đến cùng lí vậy" ("Nhị Trình di thư", Cuốn 18). Chu Hy (Zhu Xi) thì giải thích "Nói muốn đạt đến cái biết của ta thì căn cứ vào vật và xét đến cùng cái lí của nó" ("Tứ Thư", chương cuối tập chú). Phái duy vật, tiêu biểu là Diệp Thích (Yeshi) đời Nam Tống (Nansong) và Vương Phu Chi (Wang Fuzhi) thời Minh, Thanh (Qing) lại giải thích khác. Vương nói "Xét rộng đến tướng số, xét ra đến cổ kim để tìm cho hết lí, đó gọi là cách vật. Hư tâm để được sáng tỏ, suy nghĩ để biết được những ẩn dấu, đó gọi là trí tri ("Thượng thư dẫn nghĩa"). Hai loại giải thích như trên đều có ảnh hưởng rộng trong đông đảo các nhà Nho ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam.

2. Ở Việt Nam trước đây, CVTT gộp lại thành một từ cách trí, có nghĩa là một môn học bậc tiểu học về những sự vật đơn giản thông thường.