Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
CHẤT VÀ VĂN

hai khái niệm cơ bản dùng để gọi hai yếu tố hay hai phần cơ bản nhất của mọi vật trong vũ trụ theo triết lí Nho giáo.

Chất là cái tạo ra bản thân vật. Đầu tiên, trong toàn vũ trụ chất là khí thái cực. Qua những bước vận động và biến hoá, thái cực thành hai nghi (âm và dương), thành bốn tượng (Thái dương - Thiếu dương và Thái âm - Thiếu âm), thành tám quẻ (Càn - Khảm - Cấn - Chấn - Tốn - Li - Khôn - Đoài) cuối cùng thành ngũ hành (Thuỷ, Hoả, Mộc, Thổ, Kim) và trở thành chất của bản thân mọi vật. Khác với chất, văn là cái cơ bản nhất biểu hiện bản thân vật. Nó biểu hiện bằng những màu, những tiếng, những mùi... tác động vào giác quan của các giống sinh vật, bao gồm cả con người. Tác động vào thị giác là các màu, chủ yếu là "ngũ sắc": hồng, hoàng, lam, bạch, hắc (đỏ, vàng, xanh, trắng, đen); tác động vào thính giác là các âm thanh chủ yếu là "ngũ thanh" (hay là "ngũ âm") tức là "cung, thương, giốc, chuỷ, vũ" (đại thể như "hò, xừ, xang, xê, cống"); tác động vào vị giác là ngũ vị, thông thường bao gồm các khẩu vị "cam, hàm, toan, tân, khổ" (ngọt, mặn, chua, cay, đắng); tác động vào khứu giác (hít thở) chủ yếu là các mùi thơm; tác động vào xúc giác (tay sờ, da chạm) là có những cảm giác mát, ấm, nóng, lạnh hoặc trơn tru, xù xì, gai góc, vv.

Con người cũng có cái chất và cái văn của mình. Cái chất ấy là đạo nghĩa làm người trong ngũ luân. Cái văn ấy là phong cách làm người trong cuộc sống cộng đồng cơ bản, là gia đình, làng nước và thiên hạ. Trong cộng đồng nào, Nho giáo cũng khuyên con người bảo đảm sao cho cái văn và cái chất của mình tương ứng thật tốt với nhau để trở thành người quân tử. Có trí tuệ và có nhiều năng khiếu, con người được coi là "anh linh của muôn vật" và "chúa tể của muôn loài", không những biết phát huy cả cái chất và cái văn của mình, mà còn biết khai thác và vận dụng cái văn của muôn vật theo tinh thần thể hiện đúng "cái thật", "cái đẹp" và "cái tốt" của thiên nhiên cũng như của cuộc sống loài người. Dần dần biết khắc hình kẻ chữ để ghi chép sử sách, biết kết sợi các màu dệt thành gấm vóc để khâu may áo mũ, biết làm đàn sáo, trống chuông để ca ngợi những thành quả nổi bật. Đời nhà Hạ (Xia) và đời nhà Thương (Shang) đã bắt đầu có những cảnh tượng ấy. Sang đời Tây Chu (Xi Zhou) của Văn Vương (Wenwang), Võ Vương (Wuwang) và Chu Công, rút kinh nghiệm hai triều đại Hạ Vũ (Xia Wu) và Thành Thang (ChengTang), "cái văn càng rạng rỡ thay" như Khổng Tử (Kongzi) đã ca ngợi. Từ đấy "văn" thường gợi ra ý nghĩa "văn minh", "văn hiến", "văn trị"... đi liền với "giáo hoá" để trở thành "văn hoá" như sách "Thuyết Uyển" đời Hán (Han) đã giải thích.