Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
ARIXTÔT

(Aristote; HL. Aristotelês; 384 - 322 tCn.), nhà triết học và bác học Hi Lạp cổ đại. Con một thầy thuốc của vua xứ Makêđônia (Makedonija). Thầy của Alêchxanđrơ Đại Đế (Alexandre le Grand), từ khi Alêchxanđrơ 13 tuổi cho đến khi lên ngôi vua. Là môn đồ xuất sắc nhất của Platôn (HL. Platôn) trong 20 năm, từ lúc 17 tuổi. Sau khi Platôn mất, Arixtôt chọn Lykâyôt (Lykeios), trường thể dục ở gần điện thờ thần Apôlông (Apollon) ở Aten, làm nơi vừa dạo chơi vừa bàn luận, giảng giải về khoa học, triết học với các học trò của ông, do đó trường phái của ông mang tên là trường phái Pêripatôt (Peripatos – nơi dạo chơi).

Arixtôt là nhà triết học uyên bác, Mac (K. Marx) gọi Arixtôt là nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thế giới phương Tây cổ đại. Arixtôt đã để lại trên 150 tác phẩm về nhiều lĩnh vực khác nhau: tự nhiên học, triết học, lôgic học, tu từ học, chính trị học, đạo đức học, vv.

Nhờ có Arixtôt, chúng ta mới biết được khoa học thực chứng của thời đại ông, thành tựu của những người đi trước ông và những người cùng thời. Arixtôt cũng có những đóng góp lớn về tự nhiên học, là người đầu tiên đã chỉ ra sự mở rộng của vùng đồng bằng sông Nin (Nil), những sự quay vòng chậm chạp của Trái Đất; đã miêu tả tới 100 loài động vật, được phân chia thành hai nhánh lớn: các động vật có xương sống và các động vật không có xương sống.

Những sự phân loại của Arixtôt về các chế độ chính trị (chế độ quân chủ, các biến thể của chế độ đầu sỏ, chế độ dân chủ, chế độ bạo chúa), về giới tự nhiên (phân loại đá và các khoáng vật), hoặc các thể loại văn học (bi kịch, sử thi, hài kịch), đều có đặc điểm chung là chặt chẽ, rõ ràng.

Về triết học, Arixtôt phê phán học thuyết về những ý niệm (những hình thức phi vật chất) của Platôn. Song Arixtôt không thể hoàn toàn khắc phục được chủ nghĩa duy tâm của Platôn.

Platôn xác lập sự xác thực của nhận thức bằng cách tách thế giới lí tính (thế giới ý niệm) ra khỏi thế giới cảm tính. Còn Arixtôt lại coi lí tính ở trong cảm tính. Theo Arixtôt, thế giới gồm có các thực thể mà thực thể thì hoặc là vật chất, hoặc là hình thức, hoặc là sự kết hợp của cả hai. Chúa là bất động và vĩnh hằng trong sự hoàn thiện. Không có vật chất, Chúa là hình thức thuần tuý, nghĩa là tư duy thuần tuý. Trong sự thuần tuý của nó, tư duy chỉ có thể có đối tượng là bản thân nó thôi. Chúa là tư duy của tư duy. Cũng vì thế, lí tính không chỉ hiện diện trong sự tồn tại, mà còn là nguyên tắc của thế giới.

Với Platôn, linh hồn là cái cho phép con người có nhận thức. Theo Arixtôt, linh hồn cũng có một vai trò như thế, nhưng được xác định theo một cách khác. Linh hồn là nguyên tắc của mọi sinh vật. Ở con người, linh hồn gắn liền với trí tuệ. Linh hồn nào cũng có cơ thể, linh hồn phù hợp với chức năng của một cơ quan, nó là hình thức của một cơ thể sống. Trí tuệ con người có khả năng nhận được hình thức các sự vật do cảm giác truyền cho. Ai không cảm giác được thì người đó không thể suy nghĩ, mà người ta cũng không thể suy nghĩ nếu không có tiếp xúc với thế giới.

Arixtôt thừa nhận sự biến đổi của các đối tượng vật lí (các vật thể tự nhiên), coi sự biến đổi là nguyên tắc tự tại của các đối tượng đó. Mọi biến đổi đều diễn ra từ một cái gì đó đến một cái gì đó, và giả định một chủ đề đồng nhất. Vật chất mà có hình thức thì có một đặc tính, song để biến đổi nó phải có khả năng nhận được một đặc tính khác.

Các vật thể có những địa điểm phù hợp với bản tính của chúng: Trái Đất là địa điểm của những vật thể nặng, Trời là địa điểm của những vật thể nhẹ. Nhưng vận động phải có một nguyên nhân: đó là "động lực" làm cho một vật thể vận động. Do đó, tìm nguyên nhân của một vận động phải đi theo một quá trình, quá trình đó chỉ kết thúc ở một động lực đầu tiên bất động: đó là Chúa. Thành thử vật lí học đưa tới một bằng chứng vũ trụ luận về sự tồn tại của Chúa.

Đạo đức học của Arixtôt nêu rõ mục đích các hành động của con người là hướng vào điều thiện, và mục đích cuối cùng, cao nhất của con người là hạnh phúc. Con người hạnh phúc là con người giống như Chúa, có cuộc sống no đủ, không thiếu thốn gì. Song hạnh phúc cũng lại phụ thuộc vào các điều kiện bên ngoài và cũng không phải chỉ là vấn đề đức hạnh - cá nhân. Để bảo đảm cho con người có một cuộc sống hoàn hảo trong xã hội, đạo đức học của Arixtôt đề cao sự công bằng và tình bạn, coi công bằng là đạo đức cao đẹp của con người và của những quan hệ giữa người với người.

Trong quan niệm của Arixtôt, những yếu tố của chủ nghĩa duy tâm xen lẫn khuynh hướng duy vật. Người thời sau nói là ông dao động giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Những yếu tố duy tâm đã được Thánh Tômat (Saint Thomas) sử dụng và làm cho học thuyết của Arixtôt biến thành học thuyết chính thức của Giáo hội thời trung đại. Những khuynh hướng duy vật trong học thuyết của Arixtôt đã có vai trò quan trọng trong sự phát triển những tư tưởng tiến bộ của xã hội phong kiến. Khi nghiên cứu siêu hình học của Arixtôt, Lênin đã đánh giá cao, trong học thuyết của Arixtôt, những mầm mống sinh động và những nhu cầu về phép biện chứng, lòng tin chất phác vào sức mạnh của lí tính, vào tính chân lí khách quan của nhận thức.

Một số tác phẩm quan trọng của Arixtôt: "Vật lí học", "Siêu hình học", "Ocganum", "Tu từ học", "Thi ca", "Bàn về linh hồn", "Đạo đức học", "Chính trị học", "Hiến pháp Aten"... và những tác phẩm về tự nhiên, như: "Bàn về trời", "Sao băng", "Cơ học", "Về sự phát sinh và sự biến chất", "Về các bộ phận của động vật", "Về vận động", vv.

 


Arixtôt