Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
BẢN VỊ VÀNG

hệ thống tiền tệ lấy vàng làm vật ngang giá chung và làm cơ sở cho lưu thông tiền tệ. Lịch sử ghi nhận ba hình thức BVV: bản vị tiền đúc vàng, bản vị vàng thoi và BVV - ngoại tệ. Bản vị tiền đúc vàng là hình thức hoàn chỉnh lúc đầu của chế độ BVV. Bản vị tiền đúc vàng xuất hiện ở Anh từ cuối thế kỉ 18 và thịnh hành từ thế kỉ 19, ở các nước tư bản chủ nghĩa khác vào nửa cuối thế kỉ 19. Chiến tranh thế giới I (1914 - 18) đã làm sụp đổ chế độ bản vị tiền đúc vàng. Thời kì đó, ở tất cả các nước tham chiến (trừ Hoa Kì), việc đổi tiền giấy lấy tiền vàng bị đình chỉ. Tiền đúc vàng rút khỏi lưu thông, thay vào đó là loại tiền giấy mất giá. Sau chiến tranh, vào những năm 1924 - 28, chế độ BVV được phục hồi dưới hình thức mới: bản vị vàng thoi và BVV - ngoại tệ. Theo chế độ bản vị vàng thoi, tiền giấy được đổi lấy vàng thoi, nhưng phải đổi với số tiền lớn. Vd. ở Anh số tiền không dưới 1.700 bảng; ở Pháp không dưới 215 nghìn frăng. Tuy vậy, việc đổi tiền giấy lấy vàng thoi thường chỉ được thực hiện trong các trường hợp thật cần thiết như phải xuất vàng để trả nợ nước ngoài. Chế độ bản vị ngoại tệ lấy đôla Mĩ thay thế BVV. Đồng đôla được xem như trụ cột duy nhất của hệ thống tiền tệ thế giới. Theo chế độ BVV - ngoại tệ, tiền giấy không trực tiếp đổi lấy vàng được, mà đổi lấy ngoại tệ và qua ngoại tệ đổi lấy vàng. Do đó, tiền tệ của nước này ảnh hưởng hoặc phụ thuộc vào tiền tệ của nước khác. Từ 1944, hệ thống tiền tệ thế giới mới ở Britơn Ut (Bretton Woods) ra đời, lập ra Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và xác lập hệ thống bản vị ngoại tệ vàng. Do dự trữ vàng của Hoa Kì giảm sút, đồng bảng Anh phá giá... năm 1971 Chính phủ Hoa Kì đình chỉ việc đổi đôla lấy vàng. Năm 1976, Hiệp định Jamaica huỷ bỏ bản vị đôla và thừa nhận tỉ giá thả nổi, vàng bị loại ra khỏi Hệ thống Tiền tệ Quốc tế (IMS).