Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
NYAYA

(Nyãya), một trong sáu hệ thống chính thống của triết học Ấn Độ cổ đại, thịnh hành vào đầu thời kì trung đại. Có nhiều nét giống trường phái Vaisêsika (Vaisheshika). Đặc biệt có nhiều cống hiến trong lĩnh vực nhận thức luận và lôgic học. Sự xuất hiện hệ thống triết học N gắn liền với tên tuổi nhà hiền triết Ấn Độ cổ đại Gôtama (Gotama). Kinh Nyaya - Xutơra (Nyãya - Sutra) được viết vào thế kỉ 2. N thừa nhận bốn nguồn gốc độc lập của nhận thức chân thực: tri giác, suy luận, so sánh và chứng thựcs. Tri giác là tri thức có được do sự thu nhận của các giác quan (nhìn, nghe). Suy luận là tri thức dựa trên sự suy xét một số dấu hiệu của đối tượng quan sát, chẳng hạn như nói trên núi có lửa, vì trên núi có khói, nơi có khói phải có lửa. So sánh là tri thức có được do đối chiếu   vật với tên gọi của nó, chẳng hạn như có người nghe nói con vagaya giống con bò, thấy trong rừng có con giống con bò, rồi đi đến kết luận rằng con thú đó là con vagaya. Chứng thực là tri thức có được từ những vật không có điều kiện trông thấy, nghe thấy, nhưng được kinh Vệ Đà ghi lại hay người có uy tín nói lại. Đề xuất “ngũ đoạn luận” trong quá trình nhận thức, gồm 5 bước: tiền đề, chứng minh, minh hoạ, áp dụng cách chứng minh, kết luận. Về nguồn gốc của vũ trụ, N cho rằng, nguyên tử và sự kết hợp của chúng tạo ra sự vật, nhưng cũng cho rằng, linh hồn tạo ra sự vật. Về nhân sinh quan, N cho rằng, mục đích cuộc sống con người là giải thoát khỏi sự luân hồi và đau khổ.