Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
TRƯỜNG PHÁI SICAGÂU

1. (kiến trúc), quan điểm và xu hướng phát triển kiến trúc ở Hoa Kì vào khoảng cuối thế kỉ 19, là lúc mà yêu cầu xây dựng các công trình mới có sự bùng nổ, đặc biệt là ở Sicagâu (Chicago; dạng phiên âm khác Sicagô), một trung tâm công nghiệp lớn ở miền Tây Hoa Kì (có sự tăng trưởng dân số đặc biệt nhanh). Truờng phái này chủ trương thoát ra khỏi quan niệm "kinh viện" trong kiến trúc với nhiều trang trí được đắp điếm cầu kì, chống lại chủ nghĩa phục cổ mà thiên về hướng phát triển kiến trúc phù hợp với công nghệ xây dựng mới, phát triển nhà nhiều tầng với đường nét kiến trúc đơn giản, thanh thoát. Đại diện tiêu biểu của trường phái này là kiến trúc sư Xulivan (L. H. Sullivan).

2. (triết), trường phái xã hội học ở Hoa Kì. Một trong những người lãnh đạo trường phái này là Packơ (R. Parker). Cùng nhiều học giả khác, ông đã viết cuốn giáo trình xã hội học đầu tiên vào 1921, và cuốn "Thành phố" (1925), trong đó cho thấy các cộng đồng đô thị là những vùng hợp tác và cạnh tranh rất giống môi trường sống trong thiên nhiên. Cách tiếp cận đa ngành của ông được xác định như sinh thái học xã hội. Thành phố Sicagâu (Chicago) là một phòng thí nghiệm sống để nghiên cứu nhiều vấn đề xã hội quan trọng. Sau Chiến tranh thế giới I, một nhóm học giả ở Đại học Sicagâu đã phát triển một cách tiếp cận tâm lí xã hội mà ngày nay người ta gọi đơn giản là "Trường phái Sicagâu". Trước đây, cách ứng xử của con người được giải thích bước đầu trong phạm vi bản năng, các quá trình vô ý thức và những đặc tính bẩm sinh khác. TPS bao gồm các thành viên như Culi (C. H. Cooley), Mit (G. H. Mead) và Tômat (W. I. Thomas) nhấn mạnh vào tầm quan trọng của những tương tác xã hội trong sự phát triển của tư duy và hành động của con người. Mit là người chủ yếu bảo vệ quan điểm cho rằng con người đáp ứng được những ý nghĩa tượng trưng và trừu tượng cũng như các kinh nghiệm cụ thể, cá nhân và xã hội là một, cá nhân đã nội tâm hoá những kì vọng của vai trò xã hội, các giá trị xã hội và các chuẩn mực. Con người vừa là tác nhân, vừa là kẻ phản ứng, họ thường kích thích và có thể tạo ra những hành động của chính mình. Con người thường gây ra những hành động phản ứng hoặc đồng ý với một hành động tượng trưng nào đó, vd. đốt một lá cờ thì không phải là cần sức nóng của lửa mà mang ý nghĩa xa hơn là phản ứng một thể chế hay một trật tự xã hội. Nhưng ý nghĩ này về sau người ta gọi là viễn cảnh trong tượng trưng. Thập kỉ 30 là giai đoạn thay đổi nhanh chóng trong xã hội Hoa Kì, lí thuyết của trường phái này tập trung vào các hệ thống vĩ mô và phương pháp định lượng trong phạm vi rộng. Đến những năm 40 thế kỉ 20, trung tâm nghiên cứu xã hội học chuyển từ Sicagâu rộng ra các trường đại học khác như Havơt (Harvard) và Côlumbia (Columbia) với những tên tuổi nổi tiếng như Paxơn (T. Parsons), Mơtơn (R. K. Merton) và mở rộng nghiên cứu lí thuyết xã hội học sang nhiều lĩnh vực khác nữa.