Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
NHO GIÁO

học thuyết chính trị - đạo đức do Khổng Tử xây dựng vào khoảng cuối thế kỉ 6 tCn., được lưu truyền ở Trung Quốc và một số nước phương Đông hơn hai nghìn năm qua. Trong suốt lịch sử tồn tại của NG, tuy có sự khác nhau giữa các trường phái, nhưng tất cả những người theo NG đều có bốn đặc điểm chung: 1) Tôn Khổng Tử làm thầy, lấy lời nói và hành động của ông làm tiêu chuẩn cao nhất; 2) Lấy Ngũ Kinh: “Kinh Thi”, Kinh Thư, Kinh Lễ, “Kinh Dịch”, Kinh Xuân Thu làm sách kinh điển; 3) Đề cao nhân nghĩa, lấy đó làm quy tắc xử thế của mình; 4) Bảo vệ các quan hệ luân thường vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bè bạn. NG chủ trương thực hiện lễ nhạc, nhân, nghĩa, trung thứ và đạo trung dung trong xã hội. Về chính trị, đề xướng đường lối đức trị, nhân chính (hay là nhân trị) và vương đạo. Coi trọng giáo dục đạo đức luân lí và tu thân. Thời Chiến Quốc, nhà Nho chia làm tám phái, quan trọng nhất là phái Mạnh TửTuân Tử (Zunzi). Thời Hán, NG mang thêm yếu tố âm dương thần bí và sấm vĩ, tiêu biểu là Đổng Trọng Thư và Lưu Hâm (Liu Xin). Thời Nguỵ, Tấn, kết hợp với đạo Lão Trang và đạo Phật trở thành Huyền học, tiêu biểu là Hà Yến (He Yan), Vương Bật (Wang Bi). Thời Đường, Nho bài Phật, soạn ra đạo thống của Nho, tiêu biểu là Hàn Dũ. Thời Tống, Minh, Nho lại kết hợp với Phật, Lão trở thành học của Trình, Chu và Lục, Vương, vv. Vận mệnh của NG gắn liền với vận mệnh của giai cấp phong kiến Trung Quốc. Khi giai cấp này mất vị trí trên vũ đài chính trị thì NG cũng suy yếu. NG đã có ảnh hưởng lớn tới tư tưởng và xã hội Trung Quốc cùng một số nước phương Đông khác, trong đó có cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực.