Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
PHẢN TƯ

sự trở về bản thân nó của tư duy, sự phản ánh, sự khảo sát hành vi nhận thức. PT mang nội dung khác nhau trong các hệ thống triết học khác nhau. Theo Lôckơ J. (J. Locke), nhận thức gồm hai mặt: 1) Những cảm giác do sự vật bên ngoài tác động vào giác quan của chúng ta. 2) Sự quan sát cách hoạt động của tâm linh chúng ta. Tri giác “hoạt động nội bộ của tâm linh chúng ta” được Lôckơ gọi là PT, tức là một thứ nhận thức độc lập, tồn tại bên cạnh và không phụ thuộc vào kinh nghiệm cảm tính, đó là sự nhượng bộ trước chủ nghĩa duy tâm. Với Laibnit G. V. (G. W. Leibniz), PT là sự quan tâm đến cái đang diễn ra bên trong chúng ta. Với Hium  Đ. (D. Hume), các ý niệm là sự PT đối với các ấn tượng thu được ở bên ngoài. Với Hêghen F.  (F. Hegel), PT là sự nhận thức gián tiếp, sự phản ánh lẫn nhau cái này trong cái kia, chẳng hạn như trong học thuyết về bản chất, mối quan hệ tương hỗ của cả cặp phạm trù sóng đôi (bản chất và hiện tượng) đã được ghi lại, chốt lại; mỗi phạm trù trong cặp đều được PT, phản ánh, lộ rõ trong phạm trù kia.