Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
PHÁI NGUỴ BIỆN

trường phái triết học Hi Lạp cổ đại, gồm các nhà triết học dạy khoa trí khôn và khoa hùng biện thế kỉ 6 - 5 tCn. PNB có nhiều khuynh hướng khác nhau, nhưng giữa họ có một điểm thống nhất, đó là phủ nhận tôn giáo, giải thích các hiện tượng tự nhiên một cách duy lí, chủ trương một chủ nghĩa tương đối về đạo đức xã hội. Một số nhà nguỵ biện, trong đó có Prôtagôrat (Prôthagoras) là nhân vật nổi tiếng, có quan điểm duy vật về giới tự nhiên và về nhận thức luận (khi cho rằng cảm giác là nguồn gốc của nhận thức). Nhưng cũng có một số nhà nguỵ biện khác có những kết luận hoài nghi đối với tồn tại và nhận thức. Những nhà nguỵ biện hậu kì (thế kỉ 4 tCn.) thoái hoá thành những người dùng những lí lẽ xảo trá (về sau gọi là phép nguỵ biện) để  bảo vệ hay bác bỏ bất kì luận điểm nào họ muốn; không quan tâm tới chân lí. Theo Arixtôt (Aristote), họ đã trở thành những ông giáo dạy “trí khôn giả”. Những nhà nguỵ biện tiêu biểu gồm: Prôtagôrat, Goocgiat (Gorgias), Kritiat (Kritias).