Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
NHÂN TÂM

 khái niệm đạo đức của Nho giáo nói về mọi tính tình, dục vọng của con người. NT theo đạo Nho đối lập với “đạo tâm”. Đạo tâm là đạo lí, NT là nhân dục, là những ham muốn của con người do khí huyết con người hợp thành. Nên mới có câu “nhân tâm duy nguy” (lòng người nguy hiểm) vì dễ thiên về tư lợi, về vật dục, không coi trọng đạo lí làm người. Muốn rèn luyện NT, làm chủ NT, khiến trở thành đạo tâm, đạo Nho đưa ra nhiều biện pháp, trong đó có: Chính tâm: khiến lòng ngay thẳng. Sách “Đại học” có câu: “Muốn tu tâm, luyện thân mình, trước hết phải khiến lòng mình ngay thẳng”. Dưỡng tâm: nuôi cái tâm khiến lòng mình ngày càng sáng suốt. Mạnh Tử (Mengzi) có câu: “Nuôi cái tâm không gì tốt hơn giảm bớt ham muốn” (chỉ sự ham muốn về danh lợi, vật chất làm mờ ám lòng người). Tĩnh tâm: khiến lòng yên tĩnh. Tĩnh tâm khiến lòng dạ sáng suốt; yên định nên không bối rối, lo sợ vô ích dù ở bất kì hoàn cảnh nào. Tĩnh tâm còn gọi là định tâm. Trong “Sở từ”, Khuất Nguyên viết: “Lòng yên định, trí rộng mở, ta còn sợ gì”. Hư tâm: lòng trống trải không xúc động, cảm giác yên tĩnh hoàn toàn, đó là cách nghỉ ngơi, giải toả khi mệt nhọc, chuẩn bị cho đợt làm việc tiếp theo. Mặt khác, hư tâm đi liền với định tâm. Hư tâm là hoàn toàn tách rời mọi thứ khác để tập trung vào công việc đang làm. Tuân Tử (Zunzi) có câu: “Người ta sinh ra có sự hiểu biết, hiểu biết thì nhớ, nhớ là giữ lại. Nhưng cũng có chỗ để trống. Không vì những cái đã được giữ lại mà hại đến cái sắp nhận, đó là trống không”. Gạt bỏ mọi thứ đã biết, gạt bỏ mọi thứ khác, đó là hư tâm, là phương tiện để thực hiện định tâm, yên định, chăm chú vào một việc nhất định. Hư tâm còn là sự dửng dưng đối với ham muốn tầm thường như danh lợi và mọi thứ ti tiện của cuộc sống để tiến tới đạo tâm.