Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
TRI NAN HÀNH DỊ

biết (tri) khó, làm (hành) dễ, thuyết của Tôn Trung Sơn (x. Tôn Trung Sơn) xuất phát từ lập trường cách mạng dân chủ, nhằm kích thích tinh thần tiến thủ của mọi người dám xông lên làm cách mạng. Tư tưởng truyền thống ở Trung Quốc cho rằng "biết không khó, làm mới là khó" (Kinh thư). Phái cải lương dựa vào đó để biện hộ cho biện pháp cải lương: trước hết hãy nâng cao dân trí, sau đó sẽ tiến dần từ quân chủ đến lập hiến, từ lập hiến đến cộng hòa. Tôn Trung Sơn (Sun Zhongshan) lập luận: làm trước biết sau, làm rồi mới biết, cho nên làm dễ mà biết khó; có trải qua làm nhiều lần, nhiều thế hệ rút kinh nghiệm, mới có được kiến thức văn hóa, khoa học, kĩ thuật; người sau tiếp thu kiến thức ấy, nên tưởng biết là dễ; nhưng thực ra đạt đến biết là gian nan. Cho nên, không biết cũng có thể làm; làm cái không biết để tới được cái biết: đó là con đường để xúc tiến văn minh, làm cho quốc gia giàu mạnh. Thuyết TNHD dựa trên lập trường duy vật cho làm là gốc của biết, và đã vượt xa chủ nghĩa duy vật cổ đại Trung Quốc: xưa mới nói làm trong lĩnh vực đạo đức cá nhân, nay nói làm cách mạng. Khuyết điểm của thuyết đó là ở chỗ cho biết là cao, khó, cho làm là thấp, dễ; đánh giá thấp tác dụng to lớn của thực tiễn, mà thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lí. Dùng tính khó, dễ để cân đo biết và làm thì giải quyết không đúng mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn, tách rời hai cái vốn có quan hệ rất biện chứng.