Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
LÍ LUẬN NHẬN THỨC

 bộ phận của triết học nghiên cứu bản tính và khả năng của nhận thức, mối quan hệ của tri thức với thực tại khách quan, nghiên cứu các mức độ và hình thức của quá trình nhận thức, các điều kiện và tiêu chuẩn đúng đắn của nó. Lịch sử của LLNT, về thực chất, bắt đầu từ chỗ nêu lên trong triết học vấn đề tri thức là gì [Platôn (Platôn)], mặc dù bản thân thuật ngữ "lí luận nhận thức" xuất hiện muộn hơn rất nhiều. Trong lịch sử triết học, LLNT luôn luôn đóng vai trò chủ yếu và đôi khi thậm chí còn chiếm vị trí trung tâm. Hai phương hướng cơ bản của LLNT là chủ nghĩa duy tâmchủ nghĩa duy vật. Các nhà duy tâm quy nhận thức về sự tự nhận thức của "tinh thần vũ trụ" [Hêghen (G. W. F. Hegel)], về sự phân tích phức hợp của cảm giác [chủ nghĩa Makhơ (Mach)], phủ nhận khả năng nhận thức bản chất của sự vật [Hium (D. Hume) và Kantơ (I. Kant)]. Các nhà duy vật xuất phát từ chỗ cho rằng, tri thức là kết quả của sự phản ánh thế giới khách quan [Đêmôcrit (Démocrite), Bêcơn (F. Bacon), Lôckơ (J. Locke), vv.]. Nhưng các nhà duy vật trước Mac lại hiểu sự phản ánh ấy chỉ như sự phản ánh vật lí, kiểu như sự phản ánh qua gương, phản ánh một lần là xong, còn con người chỉ tiếp thụ một cách thụ động tác động từ phía khách thể đến, chứ không có ảnh hưởng gì trở lại khách thể đó cả.

 Trái với các quan điểm trên, LLNT duy vật biện chứng khẳng định rằng: 1) Thế giới vật chất là cái có trước, tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức của con người. Ý thức là cái có sau, do vật chất có tổ chức cao (bộ óc con người) sản sinh ra và là sự phản ánh thế giới vật chất ấy. 2) Không có và không thể có sự khác nhau nào về nguyên tắc giữa hiện tượng và vật tự nó. Chỉ có sự khác nhau giữa cái mà ta đã biết được và cái ta chưa biết được mà thôi. 3) Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan bởi con người, nhưng đó không phải là sự phản ánh đơn giản, trực tiếp, hoàn toàn, ngay một lần là xong, mà là một quá trình qua đó, tư duy mãi mãi và không ngừng tiến gần đến khách thể bằng cách tạo ra những trừu tượng, những khái niệm, những lí luận... ngày càng phản ánh khách thể chính xác hơn. Kết quả nhận thức ở mỗi thời điểm nhất định đều là sự phản ánh gần đúng và ngày càng gần đúng khách thể, tức là một chân lí tương đối. Kết quả của tổng số những chân lí tương đối ở một thời điểm nhất định đó đang ở trong quá trình phát triển không ngừng (vì hiện thực khách quan không ngừng vận động, biến đổi) chính là chân lí tuyệt đối. Theo bản chất của mình, tư duy của con người có thể cung cấp cho ta và thực sự cung cấp được cho ta những chân lí tuyệt đối như thế. 4) Trong toàn bộ quá trình nhận thức, thực tiễn vừa là điểm xuất phát, vừa là cơ sở, động lực của nhận thức, đồng thời là tiêu chuẩn của chân lí (x. Nhận thức).