Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
LẬP LUẬN

1. Trong triết học, LL là năng lực cơ bản của tư duy, thể hiện ở quá trình chuyển đổi các hình thức và các bước phát triển của tư duy nhằm thu được kết quả mong muốn. Có hai kiểu chính của LL: 1) LL theo kiểu rút ra kết luận từ các tiền đề đã cho trước, gọi chung là luận kết. Luận kết có thể theo lối suy diễn, quy nạp hoặc loại tỉ, vv. 2) LL theo kiểu truy tìm các luận cứ để luận chứng các luận đề nhất định, gọi chung là luận chứng. Luận chứng có thể là chứng minh hoặc là phản bác.

Giá trị chân lí của kết quả tuỳ thuộc vào giá trị chân lí của phần lập thuyết và vào việc chủ thể đang tư duy áp dụng các quy luật và quy tắc lôgic đúng đắn hay sai lầm. Nguyên tắc chung của LL là: Nếu lập thuyết chân thực, luận thuyết đúng đắn thì nhất định kết quả sẽ chân thực. Mức độ và phạm vi chân thực còn tuỳ thuộc kiểu LL. Chẳng hạn, nếu phép suy diễn cho ta kết luận tất suy lôgic thì phép quy nạp chỉ cho ta kết luận xác suất lôgic mà thôi. Sai lầm lôgic trong LL có thể do lập thuyết không chân thực, hoặc do luận thuyết không đúng đắn, cũng có thể là do cả hai nguyên nhân kể trên. Vì vậy, việc kiểm tra sự đúng đắn của LL phải được tiến hành đầy đủ và toàn diện, không thể bỏ sót bất cứ yếu tố hoặc thành phần nào trong LL.

2. Trong tin học, LL là quá trình suy diễn lôgic từ các tiền đề đi đến kết luận. Trong điều kiện có thông tin đầy đủ và chắc chắn (mọi phán đoán bất kì được giả thiết là đúng hoặc sai) thì quá trình LL được tiến hành trên cơ sở các quy tắc của lôgic hình thức cổ điển. Cùng với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, trong những năm gần đây, nhiều phương pháp LL khác (không đơn điệu, xác suất, mờ, vv.) đã được nêu lên để xử lí trong các trường hợp thông tin không đầy đủ hoặc không chắc chắn.