Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
LÔGIC TRUYỀN THỐNG

truyền thống lôgic học khá phức tạp và đa dạng. Song tựu trung có hai truyền thống lớn: truyền thống lôgic hình thức và truyền thống lôgic biện chứng. Lôgic học cổ truyền chưa có sự phân ngành rõ rệt. Các hệ thống lôgic đều hàm chứa hệ thống lôgic hình thức và cả những yếu tố lôgic biện chứng. Về sau, truyền thống lôgic học ở phương Tây khác hẳn truyền thống lôgic học phương Đông.

Truyền thống lôgic học phương Đông tiếp tục đặc trưng không phân hình thức và biện chứng. Trong khi đó, ở phương Tây kể từ thời kì Phục hưng, đã diễn ra sự phân hoá thành hai phân ngành lớn của lôgic học: lôgic hình thức và lôgic biện chứng. Lôgic hình thức truyền thống phương Tây có những công trình đánh mốc thời đại lịch sử, như lôgic quy nạp của Bêcơn F. (F. Bacon), lôgic suy diễn của Đêcac R. (R. Descartes), vv. Trong trước tác của Laibnit G.V. (G. W. Leibniz), không chỉ có sự hoàn thiện hệ thống quy luật và quy tắc lôgic hình thức truyền thống, mà còn hàm chứa tư tưởng hiện đại hoá lôgic hình thức bằng phương thức hình thức hoá và toán học hoá triệt để các lập luận lôgic.

Truyền thống lôgic học biện chứng thực ra bắt đầu từ công trình lôgic cuả Kantơ I. (I. Kant) khi ông phân biệt rõ rệt hai bộ môn lôgic: "lôgic phổ thông" chính là lôgic hình thức truyền thống và "lôgic tiên nghiệm", thực chất là lôgic biện chứng. Hêghen G.V.F (G. W. F. Hegel) với công trình lôgic vĩ đại của ông "Khoa học về lôgic" đã kết thúc thời kì lôgic biện chứng truyền thống, đồng thời mở ra giai đoạn mới cho lôgic biện chứng, giai đoạn lôgic biện chứng cổ điển. LTT ở phương Đông có nhiều tư tưởng lôgic mà ngày nay trong phong trào hiện đại hoá tư duy lôgic cả người phương Đông lẫn người phương Tây đều hội nhập vào trong một trào lưu chung là lôgic phi cổ điển. Theo một nghĩa nhất định, lôgic phi cổ điển ở phương Tây thực chất là hiện đại hoá lôgic phương Đông cổ truyền.