Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
LÔGIC TOÁN

  là kết quả toán học hoá lôgic học. Bao gồm các bộ phận lôgic mệnh đềlôgic vị từ. Lôgic mệnh đề gồm đại số mệnh đề và phép tính mệnh đề. Lôgic vị từ cũng vậy, gồm các đại số vị từ và phép tính vị từ. Lôgic toán sử dụng hệ thống kí hiệu tượng trưng, cho nên còn được gọi là lôgic kí hiệu. LT và lôgic hình thức hiện đại thực chất là một. Nó có hai giai đoạn lớn: 1) Lôgic toán cổ điển; 2) Lôgic toán phi cổ điển.

  Nhà triết học và toán học Đức Laibnit G.V (G.W. Leibniz) là người đầu tiên khởi xướng ý tưởng toán học hoá lôgic hình thức truyền thống. Công trình đại số lôgic của Bun (G. Boole) đã đặt cơ sở đầu tiên cho LT. Các công trình của Frêgơ (G. Frege), Sruêđơ (E. Schröder), Rơxơn.B. (B. Russell), Hinbe .Đ (D. Hilbert)... đã xây dựng hoàn chỉnh hệ thống LT cổ điển. Ngày nay, LT phi cổ điển đang phát triển mạnh mẽ với nhiều khuynh hướng khác nhau: lôgic đa trị, lôgic tình thái, lôgic kiến thiết, lôgic thời gian, lôgic quan hệ.

 LT không chỉ là cơ sở lôgic của triết học, toán học và khoa học hiện đại mà còn là cơ sở lôgic của kĩ thuật máy tính điện tử và kĩ thuật điều khiển tự động.