Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
LÔGIC BIỆN CHỨNG

phân ngành lôgic học chuyên nghiên cứu các đặc tính và quy luật biện chứng phổ quát của tư duy phù hợp với thực tế khách quan trong quá trình biến đổi và phát triển của nó. Hệ thống nguyên lí và quy luật của lôgic biện chứng không chỉ khác hẳn, mà thậm chí theo một nghĩa nhất định, còn đối lập với hệ thống nguyên lí và quy luật lôgic hình thức.

LBC xuất phát từ 3 nguyên lí chung: 1) Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng; 2) Nguyên lí về mẫu thuẫn nội tại của sự vật, hiện tượng; 3) Nguyên lí về sự biến hoá, phát triển của mọi sự vật và hiện tượng.

Quy luật cơ bản nhất của LBC là quy luật mâu thuẫn biện chứng. Nó ghi nhận rằng sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là bản chất của tồn tại, đồng thời là nguồn gốc và động lực của mọi sự vận động và phát triển. Các quy luật cơ bản khác là quy luật lượng đổi dẫn tới chất đổi và ngược lại, quy luật phủ định của phủ định, quy luật thống nhất đa dạng.

 Lôgic hình thức phi cổ điển xích lại LBC nhờ quá trình biện chứng hoá, biểu hiện ra như thừa nhận tính đa trị chân lí khách quan, giảm trừ tính lôgic hình thức thuần tuý bằng các nguyên tắc lôgic mới như không bài trung, kéo theo tình thái, vv. Nhưng LBC vẫn khác hẳn lôgic phi cổ điển ở chỗ không giới hạn trong phạm vi lôgic. Do có đặc tính biện chứng, nó bao quát cả quan hệ mâu thuẫn thống nhất giữa lôgic và phi lôgic.

LBC là chuẩn mực phổ quát của tư duy đang nhận thức, nhưng nó không cứng nhắc mà mềm dẻo, không cố chấp mà linh hoạt. Theo nguyên tắc chung: dĩ bất biến, ứng vạn biến. Hêghen G.V.F (G. W. F. Hegel) là nhà lôgic biện chứng lớn nhất, còn Mac K. (K. Marx) và Enghen F. (F. Engels) là những tác giả kinh điển của lôgic biện chứng duy vật.