Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
LIỄU TÔNG NGUYÊN

(Liu Zongyuan; tự: Tử Hậu, cg. Liễu Hà Đông; 773 - 819), nhà văn, nhà triết học đời Đường, Trung Quốc. Là một trong "tám nhà văn lớn đời Đường - Tống". Sinh ở Hà Đông, nên còn gọi là Liễu Hà Đông. Đỗ tiến sĩ rồi đi dự thi khoa bác học hoành từ, giữ chức hiệu thư lang. Quan điểm chính trị và văn học của Liễu Tông Nguyên có một số điểm giống Hàn Dũ song cấp tiến hơn. Vì tham gia cải cách triều chính do Vương Thúc Văn đề xướng, nên từ chức viên ngoại lang Bộ Lễ, trở thành quan tư mã Vĩnh Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Nam). Năm 815, làm thứ sử Liễu Châu (nay thuộc tỉnh Quảng Đông), rồi mất ở đó. Tác phẩm còn: "Liễu Hà Đông tập", 45 quyển, trong đó có hai quyển "Cổ kim thi" gồm hơn 140 bài thơ. Vị trí của Liễu Tông Nguyên trong phong trào cổ văn không bằng Hàn Dũ, song thành tựu sáng tác về văn xuôi lại lớn hơn. Liễu Tông Nguyên sở trường về ngụ ngôn trào phúng và kí sơn thuỷ. Ngụ ngôn, qua tay ông, đã thực sự trở thành một thể loại văn học độc lập, khái quát được nhiều chân lí phổ biến trong cuộc sống. Tác phẩm tiêu biểu: "Bàn về gấu", "Lời người bắt rắn". Những bài kí như "Tựa bài thơ về Khe Ngu", "Tám bài kí làm ở Vĩnh Châu"... không chỉ tả cảnh hay, mà còn thổ lộ một cách chân thành, kín đáo tình cảm đau thương của tác giả. Về triết học, Liễu Tông Nguyên cho "nguyên khí" là nguồn gốc của trời đất, vạn vật, cho "Trời" (thiên) là khoảng không vô hạn chỉ có thể gây ra thiên tai, không thể thưởng công phạt tội, còn pháp chế và loạn lạc là do người gây nên. Về quan điểm xã hội thì coi động lực phát triển lịch sử là do "thế", chứ không phải do ý của thánh nhân. Chủ trương điều hoà Nho, Phật, Lão, cho ba đạo có thể giúp đời. Tác phẩm có "Hà Đông tiên sinh tập".