Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
HƯƠNG HẢI THIỀN SƯ

(1628 - 1715), tục gọi là Tổ Cầu. Vốn quê Nghệ An (hương Áng Độ, huyện Chân Phúc), tổ bốn đời là Trung Lộc hầu theo Nguyễn Hoàng vào lập nghiệp tại Quảng Nam (xã Bình Yên Thượng, phủ Thăng Hoa). Đỗ hương tiến năm 18 tuổi, ít lâu sau được cử làm tri phủ Triệu Phong, được 3 năm, từ quan ra đảo Tiêm Bút (Cù Lao Chàm) giữa biển lập am nhỏ tu hành, lấy pháp danh là Hương Hải Minh Châu. Chúa Hiền (Dũng Quốc Công) nghe tiếng thiền sư đạo cao đức trọng, giỏi nghề thuốc, bèn cho triệu về cung. Thiền sư thường lui tới đàm đạo với Gia quận công - tướng của chúa Trịnh thất trận, được chúa Nguyễn dùng. Chúa Nguyễn nghi ngờ, cho thiền sư ra Quảng Nam ở. Năm Nhâm Tuất (1688), thiền sư cùng 50 đệ tử vượt biển ra Bắc, vào yết kiến chúa Trịnh, trình bày tường tận tình hình hai xứ Quảng Nam và Thuận Hoá. Chúa Trịnh cho thiền sư về trụ trì ở chùa Nguyệt Đường (nay thuộc Hải Hưng) chuyên tâm thuyết pháp, phát huy tôn chỉ dòng thiền Trúc Lâm. Là người có học vấn uyên thâm, thông hiểu cả Nho lẫn Phật. Hương Hải Thiền Sư lại đặc biệt chú ý đến việc sử dụng chữ Nôm. Theo Lê Quý Đôn trong "Kiến Văn tiểu lục ", thiền sư đã chú giải Kinh Phật và dịch ra quốc âm (tức tiếng Việt ghi bằng chữ Nôm) hơn 30 thiên. Tác phẩm đáng chú ý nhất là "Hương Hải thiền sư ngữ lục", do các đệ tử ghi chép, thuật lại, còn bảo tồn được nhiều tư liệu quan trọng về cuộc đời, tư tưởng và văn thơ của Hương Hải Thiền Sư.