Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
"KINH DỊCH"

("Yijing"; cg. "Chu Dịch"), một trong 5 cuốn sách Kinh (Ngũ Kinh) của đạo Nho. Đầu tiên là một cuốn sách dùng cho bói toán. Tương truyền Phục Hy, một ông vua thời Ngũ Đế thần thoại của Trung Quốc (khoảng 3000 năm tCn.) phỏng theo nét hình thấy trên lưng con long mã đã vạch thành "bát quái" (tám quẻ bói). Đầu tiên là hai vạch: vạch nét liền biểu thị khí dương, vạch nét đứt biểu thị khí âm, gọi là lưỡng nghi (hai nghi). Trên mỗi nghi thêm một vạch (liền hay đứt), được 4 cặp hai vạch gọi là tứ tượng (bốn hình tượng). Trên mỗi tượng lại vạch thêm một vạch tạo thành bát quái (tám quẻ), mỗi quẻ có 3 vạch. Sau đó Phục Hy lại đem quẻ này chồng lên quẻ khác thành một bộ 6 vạch, đảo khắp lượt ghép được 64 bộ sáu vạch là 64 quẻ kép, làm cơ sở cho việc bói toán.

Từ thời Ngũ Đế đến cuối đời nhà Thương (các thế kỉ 30 - 12 tCn.), "KD" chỉ là 64 quẻ bói, gồm một mớ vạch liền, vạch đứt. Đến cuối đời nhà Thương, Chu Văn Vương (mất 1135 tCn.) hồi còn là Tây Bá, bị vua Trụ cầm tù ở Dữu Lý (1144 - 42 tCn.) đã đem 64 quẻ của Phục Hy đặt tên và nêu rõ ý nghĩa lành dữ của từng quẻ, gọi là "quái từ". Sau đó, Cơ Đán, con thứ của Văn Vương (em Võ Vương, người sáng lập nhà Chu) phân tích 6 vạch, tức 6 hào của mỗi quẻ về mặt dấu hiệu lành hay dữ của từng hào, gọi là " hào từ" hay "tượng từ". Như vậy, "KD" với nội dung chủ yếu của nó: 64 quẻ với lời đoán về mỗi quẻ về từng hào của mỗi quẻ đã hình thành dưới thời Chu Văn Vương, Chu Cơ Đán nên có tên là" Chu Dịch"; lúc này "Chu Dịch" chủ yếu là sách bói, trong lời đoán lành dữ cũng thêm nhiều điều nhận định về luật tuần hoàn của thiên nhiên, và khuyên răn về đạo lí nhưng chỉ là thứ yếu. Mấy trăm năm sau, Khổng Tử tiếp thu nguyên lí "dịch" với nội dung triết học và đạo lí sâu sắc của nó đã viết bảy bài luận thuyết (Thoán truyện, Tượng truyện, Văn ngôn, Hệ từ, Thuyết quái, Tự quái, Tạp quái) thích nghĩa thêm về 64 quẻ, làm sáng tỏ đạo trời và đạo người bao hàm trong Dịch Lí. Những lời bàn của Khổng Tử được gọi là "Dịch truyện", bên cạnh phần "kinh" gồm 64 quẻ với lời đoán của Văn Vương và Chu Công. "KD" được dịch ra nhiều thứ tiếng. Ở Việt Nam, "KD" cũng được dịch ra tiếng Việt, trong đó bản dịch được nhiều người biết đến là bản "KD" của Ngô Tất Tố (Mai Lĩnh, Hà Nội, 1944) và bản Chu Dịch của Phan Bội Châu (Khai Trí, Sài Gòn, 1969).