Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
KHÍ

phạm trù triết học của Trung Quốc cổ đại. Nghiã ban đầu chỉ thể khí (hơi), như hơi nước, hơi sương, hơi thở. Vật rắn, vật lỏng đều do thể K tụ lại mà thành. K là tài liệu nguyên thuỷ của mọi vật, nó đầy rẫy trong không gian và có tính năng động, có sức bốc lên (chữ Hán, K vẽ tượng hình 3 làn hơi bốc lên). Thoạt tiên, K là âm, dương. Mạnh Tử phân biệt K với chí, nói "giữ vững chí, đừng làm tổn hại đến K", lại nói "khéo nuôi cái khí hạo nhiên" đầy ắp trong con người và cả trong trời đất. Quản Tử nêu ra tinh khí là thứ K tinh tế nhất. Trang Tử phân biệt K với tâm.

Tóm lại đặc điểm của K: 1. Có thực, không phải là không hay hư vô, 2. không phải là hình, nhưng là gốc của hình, 3. không phải là tâm, mà là mặt đối với tâm. Như vậy, K là tài liệu nguyên thủy cấu thành mọi vật hữu hình; K là phạm trù chỉ tồn tại vật chất. Trong thời phong kiến, từ Hán trở về sau, nội dung cơ bản của phạm trù K không đổi. Như nói: "Trời đất hợp K lại, vạn vật tự sinh" (Vương Sung); "Thái hư không thể không có K, K không thể không tụ lại mà thành vạn vật", K biến hoá theo quy luật nhất định là lí (Trương Tải). Chu Hy, nhà lí học đời Tống nói "Trong khoảng trời đất, có lí, có khí"; tuy cho rằng lí có trước K nhưng cũng chấp nhận K tức là âm dương ngũ hành, hợp lại với nhau thành tài liệu sinh ra vạn vật. Vương Phu Chi cho K là thực tại duy nhất: "Cái chứa trong trời đất, chỉ có K mà thôi".