Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
GIÁN ĐOẠN VÀ LIÊN TỤC

những khái niệm phản ánh những đặc tính đối lập nhưng gắn liền với nhau của các khách thể vật chất. Khái niệm gián đoạn dùng để chỉ tính chất đứt quãng, tính chất "hạt" trong cấu tạo cũng như trong sự biến đổi của khách thể vật chất. Nó dựa trên tính chất có thể phân chia được và sự tồn tại độc lập tương đối của các yếu tố cấu thành khách thể. Đồng thời, nó cũng biểu hiện tính chất nhảy vọt của các quá trình phát triển biến đổi. Ngược lại, khái niệm liên tục dùng để chỉ sự kế tiếp nhau trong cấu tạo, cũng như trong sự biến đổi của khách thể ấy. Nó dựa trên tính không thể phân chia được và sự bền vững tương đối của khách thể với tính cách là một chỉnh thể có chất lượng nhất định. Dựa trên những quan niệm của cơ học cổ điển, chủ nghĩa duy vật siêu hình xem xét tính GĐVLT một cách tách rời nhau, coi tính gián đoạn chỉ vốn có ở một số loại yếu tố vật chất nhất định, còn tính liên tục thì chỉ vốn có đối với những quá trình sóng nguyên vẹn. Chủ nghĩa duy vật biện chứng thì cho rằng GĐVLT gắn bó chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau và tồn tại trong sự thống nhất. Sự thống nhất ấy đặc trưng cho cả cấu trúc lẫn sự biến đổi của khách thể: cấu trúc của bất kì khách thể nào cũng là sự thống nhất của GĐVLT [chẳng hạn, ánh sáng vừa có đặc tính sóng (liên tục) và lại vừa có đặc tính hạt (gián đoạn)]; mặt khác, sự phát triển của bất kì khách thể nào cũng diễn ra vừa liên tục (khi biến đổi còn diễn ra trong phạm vi của độ), vừa gián đoạn (khi biến đổi đã vượt khỏi phạm vi của độ và gây nên sự nhảy vọt về chất của khách thể).