Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
CHỦ NGHĨA HÌNH THỨC

1. (triết), nguyên lí phương pháp luận làm cơ sở cho một vài lí thuyết đạo đức, trong đó, sự nghiên cứu các yếu tố lôgic hình thức bằng cách này hay cách khác chiếm ưu thế so với sự phân tích nội dung và bản chất xã hội của đạo đức. Điều này được thể hiện rõ trong đạo đức học của Kantơ (I. Kant). CNHT trong đạo đức học là một trong những khuynh hướng chính của triết học đạo đức tư sản hiện đại. Ở đây, CNHT mang đặc điểm hơi khác: người ta cho nhiệm vụ của đạo đức học chỉ là nghiên cứu mặt nhận thức luận và hình thức lôgic của quan niệm đạo đức mà thôi, còn nội dung cụ thể của chúng thì lại nằm ngoài phạm vi phân tích. Những quan niệm như thế về đối tượng của đạo đức học không chỉ dẫn tới chỗ thu hẹp một cách phi lí các nhiệm vụ của nó, mà còn dẫn tới hàng loạt kết luận không có căn cứ khoa học. Các nhà hình thức chủ nghĩa đã loại trừ việc nghiên cứu những vấn đề đạo đức ra khỏi nhiệm vụ của đạo đức học và tuyên bố rằng không thể nào giải quyết được các vấn đề này bằng các phương tiện lí luận. Điều này làm cho đạo đức học mất nội dung xã hội và ý nghĩa thế giới quan, loại trừ nó ra khỏi nhiệm vụ giải quyết những vấn đề tư tưởng và thực tiễn của thời đại.

2. (nghệ thuật), phương pháp nghệ thuật dựa trên sự tuyệt đối hoá, mĩ học hoá hình thức trong nghệ thuật, đối lập với chủ nghĩa hiện thực. CNHT ra đời vào cuối thế kỉ 19 - đầu thế kỉ 20 sau khi đã hợp nhất nhiều trào lưu và trường phái nghệ thuật tư sản (chủ nghĩa vị lai, chủ nghĩa lập thể, chủ nghĩa trừu tượng, chủ nghĩa siêu thực, vv.). CNHT xuất phát từ luận đề cho rằng hoạt động nghệ thuật không phục tùng sự kiểm tra của lí tính, từ cách hiểu duy tâm về khoái cảm thẩm mĩ, coi khoái cảm thẩm mĩ là cái gì đó không bị ràng buộc bởi các tư tưởng xã hội, bởi các lợi ích cơ bản của đời sống, bởi lí tưởng thẩm mĩ và lí tưởng xã hội.

3. (toán), một khuynh hướng tìm cách giải quyết các vấn đề cơ sở của toán học như vấn đề phi mâu thuẫn của một hệ tiên đề (tiêu chuẩn chân lí trong toán học), tính đầy đủ của một lí thuyết toán học... dựa trên việc hình thức hoá toán học (chỉ dùng các kí hiệu hình thức để diễn tả toán học, không dùng ngôn ngữ thông thường) và xem mỗi kí hiệu là hoàn toàn hình thức, không có nội dung, chẳng hạn như xem $ là chữ e hoa ngược, chứ không phải là một kí hiệu để diễn tả nội dung "tồn tại". Hinbe (D. Hilbert) là nhà toán học tiêu biểu cho CNHT trong toán học.