Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
GIÁO DỤC PHONG KIẾN

hệ thống giáo dục chính thống do các triều đại phong kiến quản lí, nhằm đào tạo tầng lớp nho sĩ trí thức, quan lại trung thành với các triều đại.

Ở Việt Nam, chương trình học của GDPK sử dụng chủ yếu 2 bộ sách kinh điển của Nho giáo là Tứ thư và Ngũ kinh (x. Tứ thư; Ngũ kinh). Chữ Hán là chữ chính thống trong nhà trường phong kiến, song bên cạnh chữ Hán đã sớm xuất hiện chữ Nôm từ thế kỉ 13.

Đội ngũ học quan vừa trông coi việc học, vừa trực tiếp giảng dạy, sát hạch, gồm: quan tế tửu, tư nghiệp, học chính (ở Quốc Tử Giám), đốc học (ở tỉnh), giáo thụ và huấn đạo (ở phủ, huyện). Kì thi thấp nhất được tổ chức ở tỉnh là khảo khoá, sau đến tổng hạch. Chỉ được dự thi hương khi trúng tổng hạch. Thi hương phải qua bốn trường. Đỗ đủ bốn trường được nhận học vị hương cống (cử nhân). Chỉ trúng ba trường được nhận học vị tú tài. Hương cống (cử nhân) được vào học trường Quốc Tử Giám và được dự thi hội tại kinh đô. Trúng thi hội sẽ dự kì thi đình. Đỗ thi đình tuỳ trình độ cao thấp mà được nhận các học vị: trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa (đệ nhất giáp), hoàng giáp (đệ nhị giáp), tiến sĩ (đệ tam giáp). Thời Nguyễn bỏ học vị trạng nguyên, có thêm học vị phó bảng. Ngoài ra còn có một số kì thi như Đông các, Lại viên. Kì thi võ tướng cũng được tổ chức tại kinh đô. Người trúng tuyển được nhận học vị tạo sĩ.

Dưới thời phong kiến, đại bộ phận nông dân, dân nghèo, phụ nữ không được đi học do những quy định ngặt nghèo của xã hội phong kiến. Ngay từ thời nhà Lê đã có lệnh "bảo kết hương thí" và "cung khai tam đại". Hễ là con cháu nhà xướng ca (như Đào Duy Từ) hay có tội với triều đình thì không được dự thi. Cùng với hệ thống giáo dục do triều đình quản lí, còn có loại trường làng, xã của các thầy đồ. Nhiều người đỗ đạt cao đã từ quan về quê mở trường dạy học như Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp, vv.

Khoa thi hội cuối cùng vào năm 1919, chấm dứt lịch sử việc học và thi bằng chữ Hán trên đất Việt Nam.