Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
HÁN

1. (dân tộc; Han), dân tộc đa số ở Trung Quốc. Thuộc nhóm loại hình Đông Á, đại chủng Môngôlôit (Mongoloid) và ngữ hệ Hán Tạng. Dân số chiếm 91,96% của tổng dân số Trung Quốc (1990). Dân tộc H do dân tộc Hoa Hạ cổ đại hỗn hợp lâu dài với các dân tộc khác mà thành, trong quá trình phát triển lại không ngừng tiếp thu thêm thành phần các dân tộc thiểu số, nên ngày càng lớn. Là dân tộc có số dân đông nhất trên thế giới. Trong lịch sử, đã từng có nhiều lần người Hán di chuyển từ sông Hoàng Hà, sông Hoài xuống sông Trường Giang (cg. Dương Tử), Châu Giang. Hiện nay, dân tộc H được phân bố khắp cả nước, song chủ yếu tập trung ở ba lưu vực lớn thuộc các sông Hoàng Hà, Trường Giang, Châu Giang và đồng bằng Tùng Liêu. Hàng chục triệu người sống phân tán ở nhiều vùng trên thế giới. Nông nghiệp và thủ công nghiệp rất phát đạt. Đồ đồng, tơ lụa, đồ sứ, kiến trúc, hội hoạ đã sớm nổi tiếng. Có nhiều nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà quân sự, nhà khoa học, nhà văn học, nhà nghệ thuật lớn. Người H sớm phát minh kim nam châm, chế giấy, kĩ thuật in, hoá dược; có nhiều đóng góp lớn lao vào thành tựu của văn minh, văn hoá nhân loại. Đã có nhiều quan hệ giao lưu kinh tế - văn hoá với các dân tộc khác trong nước và ngoài nước. Tôn giáo tín ngưỡng của người H phong phú, đa dạng. Thịnh hành việc thờ cúng tổ tiên. Đạo giáo, Khổng giáo, Phật giáo được truyền bá nhiều nơi. Có một bộ phận nhỏ theo đạo Thiên Chúađạo Tin Lành.

 Từ 1921, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, dân tộc H đã cùng các dân tộc khác đấu tranh cách mạng. Đến 1949 đã lật đổ nền thống trị phản động của đế quốc phong kiến, lập nên nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của dân tộc H nói chung đi trước các dân tộc thiểu số, nên có tác dụng chủ đạo trong đời sống của đất nước và xây dựng mối quan hệ bình đẳng đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc.

 2. (sử), vương triều phong kiến Trung Quốc (206 tCn. - 220 sCn.); gồm 2 giai đoạn: Tây H hoặc Tiền H (206 tCn. - 8 sCn.) do Lưu Bang (256 - 195 tCn.) tức Hán Cao Tổ sáng lập. Đông H hoặc Hậu H (23 - 220) do Lưu Tú (? - 57), tức Hán Quang Vũ, cháu 9 đời Lưu Bang sáng lập.

 Giai đoạn Tây H gồm 13 đời vua, kinh đô đóng ở Trường An (nay là Tây An). Đầu thời Tây H, các thế lực cát cứ từ các vương hầu, tôn thất cùng dòng họ còn mạnh. Vua Cảnh Đế (157 - 141 tCn.) bãi bỏ chế độ phân phong chư hầu. Đời Hán Vũ Đế (141 - 87 tCn.) với chính sách "độc tôn đạo Nho", Hán Vũ Đế thi hành nhiều biện pháp nhằm loại bỏ các thế lực cát cứ, củng cố chế độ trung ương tập quyền, thiết lập đế chế. Về kinh tế, nhà nước thực hiện chính sách điều hoà vật giá, cấm thương nhân tích luỹ, thống nhất và quản lí việc đúc tiền. Trên lĩnh vực đối ngoại, tiến hành nhiều cuộc viễn chinh ở Mãn Châu, Triều Tiên, Mông Cổ, Việt Nam, Trung Á, vv. Năm 8 sCn., bị ngoại thích Vương Mãng (155 tCn. - 23 sCn.) cướp ngôi, xưng đế, lập triều Tân (8 - 23).

Giai đoạn Đông H gồm 12 đời vua, kinh đô đóng ở Lạc Dương. Lên ngôi từ năm 23, tới năm 37, Lưu Tú dẹp xong các cuộc khởi nghĩa nông dân, thống nhất đất nước. Tiếp tục tăng cường chế độ trung ương tập quyền. Có ý định giải phóng chế độ nô tì nhưng bị giai cấp địa chủ phản đối. Là thời kì xuất hiện và phát triển mạnh Đạo giáo, tôn thờ Lão Tử là thuỷ tổ. Năm 184, khởi nghĩa Hoàng Cân (Khăn Vàng) bùng nổ chống triều đình. Năm 192, Hiếu liêm Tào Tháo dẹp yên loạn Khăn Vàng. Tào Tháo mất năm 220, con là Tào Phi ép Hán Hiến Đế nhường ngôi. Đông H kết thúc.

 Vương triều H (Lưỡng H) là một trong những thời kì thịnh trị trong lịch sử chế độ phong kiến Trung Quốc.