Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa

đơn vị hành chính cấp cơ sở ở các vùng nông thôn Việt Nam. X gồm nhiều thôn, làng, bản, buôn, ấp, xóm. Dân cư trong X thường có một số dòng họ cùng chung sống lâu đời. Từ thời kì đất Giao Châu khởi đầu có tên là An Nam thuộc nhà Đường cai trị đã hình thành cấp X (trên X là hương, huyện, châu). Cấp X tồn tại lâu dài trong lịch sử (thời kì nhà Đinh, trên X là giáp; các thời kì sau này, trên X là tổng, phủ, huyện, vv.).

Bộ máy lãnh đạo và quản lí ở cấp X gồm có hội đồng kì mục, ra đời từ thời Trần, tồn tại đến các thời Lê, Nguyễn. Sau những cải cách hương chính của người Pháp (từ đầu đến giữa thế kỉ 20), hội đồng kì mục đổi tên là hội đồng tộc biểu, nhưng về sau chính quyền thực dân phải trả lại tên cũ là hội đồng kì mục, ở Nam Bộ là hội đồng hương chính. Hội đồng là cơ quan quyết nghị, với nhiệm kì 3 năm hoặc 6 năm. Kì dịch gồm có các xã quan, xã trưởng (thời Lê) hoặc lí trưởng, các phó lí, trương tuần, cai vạn, thủ quỹ, thủ lộ, hộ lại. Kì dịch là những người chấp hành của hội đồng kì mục, hội đồng tộc biểu, vv. Các kì dịch có thời kì do quan trên bổ nhiệm (thời kì đầu nhà Trần), đến triều Lê (thế kỉ thứ 15) do X tự chọn, quan đầu hạt duyệt y, Bộ Lại cấp bằng; trong thời kì Pháp thuộc, các kì dịch do dân bầu, nhưng phải được đại diện Chính phủ bảo hộ phê chuẩn.

Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay, X là đơn vị hành chính cấp cơ sở ở nông thôn trong hệ thống các cấp hành chính của Việt Nam. Hệ thống chính trị ở X có đảng uỷ (hoặc chi uỷ), hội đồng nhân dânủy ban nhân dân (có thời kì gọi là ủy ban hành chính, ủy ban kháng chiến hành chính), mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Chính quyền cấp X là nơi trực tiếp tổ chức chỉ đạo nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên. Theo Niên giám thống kê 2004 của Tổng cục Thống kê (bản tóm tắt), đến cuối 2004, cả nước có 9.012 X; 1.181 phường và 583 thị trấn tương đương cấp X.