Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
MÔNG

(cg. Mèo, Mẹo, Miêu), tên tự gọi, đồng thời là tên gọi của một dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Có các nhóm địa phương: trắng, hoa, đen, xanh. Dân số 558.053 (1989). Thuộc nhóm ngôn ngữ Mông - Dao, ngữ hệ Nam Á. Cư trú vùng rẻo cao các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Thanh Hoá, Nghệ An và nhiều nơi khác. Ngoài Việt Nam, ở Trung Quốc, Lào, Thái Lan và Myanma cũng có người M sinh sống. Hiện nay, người M còn phân bố ở Nhật, Hoa Kì, Canađa, Guyan (Guyane), Pháp, Ôxtrâylia, Taxmani (Tasmanie), vv. Loại hình kinh tế chủ yếu là trồng trọt. Làm nương, trồng ngô, lúa, đậu và nhiều cây đặc sản có giá trị như tam thất, xuyên khung, huyền sâm. Trước đây đồng bào trồng cây thuốc phiện, nay đang thay thế bằng các loại cây trồng khác. Nghề chăn nuôi gia súc và gia cầm tương đối phát triển. Các ngành nghề thủ công: nghề dệt, nghề rèn (đúc lưỡi cày và làm súng kíp), nghề mộc, nghề đan lát, nghề làm giấy, vv.

Đồng bào ở nhà trệt, trừ bộ phận nhỏ sống gần người Tày thì ở nhà sàn. Nam giới mặc quần, nữ giới mặc váy quá đầu gối. Tuỳ theo từng nhóm địa phương mà có những hoa văn và kiểu dáng chắp vải màu khác nhau. Cả nam và nữ đều thích mang các đồ trang sức (vòng cổ, vòng tay, vv.) bằng bạc hoặc bằng đồng. Nhiều nhà họp lại thành bản gọi là giao. Mỗi bản thường bao gồm một số dòng họ, cũng có khi chỉ có một dòng họ. Trưởng bản do dân cử, gọi là lùng thầu. Trưởng họ đóng vai trò to lớn trong đời sống của đồng bào. Tục cướp vợ còn đậm nét, vẫn còn tàn dư của tập tục hôn nhân anh em chồng (levirat). Người M có kho tàng văn học dân gian phong phú. Những nhạc cụ truyền thống là đàn môi và khèn. Người M theo vạn vật hữu hình và thờ cúng tổ tiên, Saman giáo khá phát triển. Ngoài ra cũng có một bộ phận theo đạo Thiên Chúađạo Tin Lành. Hiện nay, người M đang thực hiện có kết quả cuộc vận động định canh định cư, xây dựng bản làng mới.


 

Người Mông