Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
LĂNG TỰ ĐỨC

(cg. Khiêm lăng), lăng xây dựng những năm 1864 - 67, trên núi Dương Xuân, ở tả ngạn sông Hương, cách trung tâm Huế 8 km (làng Dương Xuân - huyện Hương Trà cũ). Khu lăng có bố cục kiến trúc đặc sắc và rất hài hoà với khung cảnh thiên nhiên. Lúc đầu, Tự Đức gọi là "Vạn niên cơ" (cái nền của sự tồn tại dài lâu vạn năm), sau đổi là "Khiêm lăng" (lăng của sự khiêm tốn). Lăng có tường bao bọc xung quanh mở ra 4 cửa: cửa Vu Khiêm, cửa Tự Khiêm, cửa Thượng Khiêm và cửa Hậu phía sau (diện tích đất 225 ha). Lăng bao gồm hai phần khu điện thờ (Tâm điện) và khu lăng mộ (Bửu thành). Qua cửa Vu Khiêm (cửa chính), đường vào lăng chạy quanh co, có vẻ tự nhiên bên hồ Lưu Khiêm, trong hồ có Khiêm đảo, ven hồ dựng 2 nhà thuỷ tạ: Dũ Khiêm tạ (nơi hứng gió và bến thuyền rồng) và Xung Khiêm tạ (nơi đọc sách, câu cá). Đối diện với Dũ Khiêm tạ là Khiêm Cung môn dẫn vào quần thể kiến trúc điện thờ Tự Đức và hoàng hậu: điện Hoà Khiêm, sau đó là điện Lương Khiêm - thờ bố mẹ vua phía trước; bên phải là Minh Khiêm đường, bên trái là Ôn Khiêm đường, phía sau đăng đối hai bên là Tùng Khiêm viện và Dụ Khiêm viện. Kết thúc khu điện thờ là hòn Giả sơn và Bình phong "Tứ linh". Khu lăng mộ bao gồm: bái đình và nhà bia (bia đá cao 4 m, rộng 2,5 m chạm trổ rồng phượng tinh xảo và đẹp mắt). Hai bên có 2 trụ biểu cao, sau đến hồ bán nguyệt tên gọi Tiểu Khiêm Trì và tận cùng là Huyền cung (nơi có phần mộ Tự Đức). Vua Tự Đức khi còn trị vì thường đến Minh Khiêm đường xem hát bội hay thưởng thức ca múa nhạc cung đình.

LTĐ được tạo hình và tạo cảnh trong khung cảnh rừng với kiến trúc nhỏ xinh và duyên dáng, trở thành một mẫu mực cuả nghệ thuật kiến trúc phong cảnh dân tộc.


 

Lăng Tự Đức