Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
TRÁI ĐẤT

hành tinh thứ ba của hệ Mặt Trời tính từ Mặt Trời ra, kí hiệu . Có sinh vật có trí tuệ là con người. TĐ quay quanh Mặt Trời theo quỹ đạo elip với độ lệch tâm 0,0176. Khoảng cách trung bình giữa TĐ và Mặt Trời 149,6.106 km; chu kì quay quanh Mặt Trời 365,2564 ngày; tốc độ quay 29,765 km/s; chu kì tự quay 23h56’15,2". Chuyển động tự quay của TĐ gây ra sự thay đổi luân phiên ngày và đêm. Trục quay của TĐ nghiêng một góc 66o33’20" so với mặt phẳng quỹ đạo quanh Mặt Trời (mặt phẳng hoàng đạo). TĐ chỉ có một vệ tinh là Mặt Trăng (cách TĐ 384.400 km; quay quanh TĐ với quỹ đạo gần như hình elip không khép kín). 

Khối lượng 5.976.1021 kg (bằng 1/333.432 khối lượng của Mặt Trời). Khối lượng riêng 5,52 g/cm3(khối lượng riêng trung bình của các loại đá trên mặt đất chỉ là 2,65 g/cm3, điều này chứng tỏ cấu tạo của TĐ không đồng nhất). TĐ không có dạng cầu đều đặn mà là hình elipxoit tròn xoay dẹt ở hai cực. Bán kính ở xích đạo 6.378,245 km, ở địa cực 6.356,863 km, như vậy độ dẹt của TĐ là 1/298,3. Thông thường, bán kính TĐ được lấy tròn 6.370 km. Bề mặt TĐ không bằng phẳng mà có chênh lệch độ cao đáng kể. Lục địa chỉ chiếm khoảng 1/4 diện tích mặt đất, còn lại là biển và đại dương. Núi cao nhất đạt gần 9 km, biển sâu nhất gần 11 km, độ chênh lệch địa hình tới gần 20 km (xem thêm Phụ bản hình Trái Đất).

Như nhiều hành tinh khác, TĐ có từ tính. Trục của hai cực địa từ nghiêng 12o so với trục quay của TĐ. Vị trí cực địa từ thay đổi theo thời gian. Nguồn năng lượng chính của phần lớn các hiện tượng xảy ra trên bề mặt TĐ là bức xạ Mặt Trời. Hằng năm TĐ nhận 5,4.1031 ec bức xạ Mặt Trời, trong số đó khoảng 55% được khí quyển và lớp đất bề mặt hấp thụ. Bức xạ hạt (các luồng hạt) Mặt Trời cùng với bức xạ tử ngoại và Rơnghen có ảnh hưởng lớn đến nhiều hiện tượng và quá trình vật lí trên TĐ, đặc biệt là trong khí quyển. Tiềm năng địa nhiệt của TĐ rất lớn, càng xuống sâu nhiệt độ càng tăng. Xuống sâu 100 km nhiệt độ có thể tới 1.000 - 1.400 oC và gấp 2 - 2,5 lần khi xuống sâu hơn. TĐ kể cả lớp khí bao quanh có cấu trúc đồng tâm từ ngoài vào trong gồm nhiều tầng bao nhau gọi là quyển (x. Khí quyển Trái Đất; Thuỷ quyển).

Từ quyển ra khỏi phạm vi 60.000 km coi như không thuộc phạm vi TĐ, mà chỉ có từ trường Trái Đất.

Lớp vỏ cứng của TĐ dày 30 - 70 km ở lục địa, và mỏng hơn 5 - 10 km ở đáy các đại dương. Dưới lớp vỏ cứng là manti (lớp bao); dưới lớp bao là nhân. Nhân TĐ có bán kính 3.470 km, nhân ngoài ở trạng thái lỏng và nhân rắn ở giữa. TĐ hình thành khoảng 4,7 tỉ năm trước đây, có thành phần chủ yếu gồm sắt (37,5%), oxi (28,5%), silic (14,5%) và magie (10,2%), vv. Vỏ TĐ có thành phần chủ yếu (trung bình) sắt (4,8%), oxi (46,6%), silic (27,7%) và magie (1,94%). Ngày nay, một nguy cơ lớn đang đe doạ sự sống trên TĐ, đó là những tác động của con người gây nguy hại cho môi trường, sinh thái: phát ra quá nhiều khí nhà kính (CO2, CH4...) gây biến đổi khí hậu toàn cầu, phát ra các khí phá huỷ tầng ozon gây ô nhiễm nặng khí quyển và thuỷ quyển, phá huỷ rừng nhiệt đới làm suy giảm nghiêm trọng đa dạng sinh học, làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên. Xt. Vỏ Trái Đất; Manti; Nhân Trái Đất; Hiệu ứng nhà kính.