Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
TÔM HE

tên chung chỉ các loài tôm biển, gồm 5 phân họ thuộc họ Tôm he (Penaeidae). Thân dẹt hai bên, phần đầu - ngực có 5 đôi chân bò dài, mảnh, đôi 1 và 2 có kìm, đôi 4 và 5 phát triển; có nhiều mang. Phần bụng có các chân bơi thành hai nhánh. Chiều dài toàn thân của các loài khác nhau khá lớn, thay đổi từ 20 mm đến trên 300 mm, khối lượng từ 1 - 2 g đến 200 g. Chủ yếu sinh sống ở vùng gần bờ, độ sâu 2 - 50 m, có đáy là bùn, bùn cát mềm; một số loài sống ở vùng biển ấm sâu (đến hàng trăm mét). Thường vùi mình hoặc chui trong bùn đáy, ban ngày hoạt động bắt mồi, giao phối và đẻ trứng đều vào đêm. Có tập tính kết đàn. Trong tự nhiên, đa số các loài TH chỉ sống được hơn một năm, chúng chết hàng loạt do kiệt sức sau khi đẻ, một số loài sống được 2 - 4 năm (vd. TH Nhật Bản Penaeus japonicus, tôm nương P. orientalis). TH sinh sản hữu tính. Tôm cái đẻ trứng vào nước ban đêm, mỗi mùa một con đẻ khoảng 700 - 800 nghìn trứng. Trứng trôi nổi trong nước, trải qua giai đoạn phôi trong khoảng 12 - 17 giờ, nở thành ấu trùng Nauplius; sau 6 - 7 lần biến thái Nauplius chuyển thành ấu trùng Zoea. Sau 3 lần biến thái, Zoea chuyển thành ấu trùng Myzis đã có hình dáng của TH. Ấu trùng Myzis sau 3 lần biến thái chuyển thành hậu ấu trùng; sau 22 - 25 lần biến thái nữa, hậu ấu trùng mới biến thành tôm con (mỗi lần biến thái là một lần lột vỏ). Tôm con lột vỏ nhiều lần theo định kì thời gian, lớn thành tôm trưởng thành. Ở giai đoạn hậu ấu trùng và tôm con, TH sinh sống ở khu vực sát bờ, vùng cửa sông, rừng ngập mặn ven sông, biển. Nhưng khi trưởng thành và sinh sản chúng di chuyển ra xa bờ. Các loài trong họ TH là đối tượng kinh tế quan trọng có giá trị xuất khẩu lớn nhất ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới. Ngoài nghề đánh bắt ở biển, hiện nay ở Việt Nam, nghề nuôi tôm bằng giống tự nhiên và giống nhân tạo đang được phát triển mạnh. Cho đến nay, ở Việt Nam, đã phát hiện được 75 loài TH, trong đó có giá trị kinh tế nhất là tôm sú (Penaeus monodon), tôm thẻ rằn (P. semisulcatus), tôm bạc hay TH mùa (P. merguiensis), TH Ấn Độ (P. indicus), tôm nương (P. orientalis), TH Nhật (P. japonicus), tôm rảo (Metapenaeus ensis), tôm bộp (M. affinis), tôm vàng (M. joyneri), tôm sắt rằn (Parapenaeus sculptilis). Cần có các biện pháp tích cực và hữu hiệu để bảo vệ nguồn lợi, nhất là bảo vệ đàn tôm con ở khu vực gần bờ, bảo vệ sinh thái tự nhiên của tôm con, bảo vệ đàn tôm bố mẹ trong mùa đẻ.