Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
TÔM

nhóm động vật thuộc Giáp xác mười chân (Decapoda) sống trong môi trường nước, phần lớn có kích thước lớn, phần đầu và ngực bọc trong vỏ giáp (giáp đầu ngực), có 3 đôi chân hàm, 5 đôi chân ngực (một số đôi đầu tiên biến đổi thành càng) và 6 đôi chân bụng. Cơ thể gồm phần đầu ngực, bụng và tận cùng là telson. Kích thước của các loài T thay đổi tuỳ theo loài và tuổi, chiều dài thân thay đổi từ 1 - 2 cm (như ở họ Sergestidae) đến 75 - 80 cm như họ Tôm rồng (Palinuridae) và Tôm hùm (Homaridae); khối lượng từ 0,1 - 0,2 g đến 15 - 19 kg/con. Phần đông T sinh sản hữu tính nhưng cũng có một số ít loài sinh sản đơn tính. T đẻ trứng, đa số ôm trứng đã được thụ tinh ở bụng nhưng ở một số loài, vd. Tôm he (Penaeidae) đẻ trứng và thụ tinh trong nước. Số lượng trứng được đẻ hàng năm ở mỗi nhóm T khác nhau, nhiều nhất là 700 nghìn - 1 triệu trứng. Sau khi thụ tinh và trải qua thời kì phôi, trứng nở ra ấu trùng, sau đó trải qua nhiều giai đoạn biến thái phức tạp mới biến thành T con, rồi lột vỏ nhiều lần, lớn thành T trưởng thành. Thời kì hậu ấu trùng và T con cư trú ở vùng cửa sông, bãi sú vẹt ven bờ, sau đó chuyển dần ra xa theo mức độ lớn lên. Ở mỗi giai đoạn biến thái và cỡ tuổi, T có nhu cầu sinh thái và thức ăn khác nhau. T là đối tượng kinh tế quan trọng, kể cả T biển và T nước ngọt. Sản lượng T biển chiếm tới 70% lượng giáp xác khai thác trên thế giới, trong đó khoảng một nửa được khai thác ở Thái Bình Dương. T là hàng xuất khẩu có giá trị lớn. Việt Nam có nguồn lợi T phong phú, gồm nhiều chi, loài có giá trị kinh tế và sản lượng lớn, những chi có ý nghĩa quan trọng nhất của Việt Nam hiện nay là Tôm he (Penaeus), Tôm rảo (Metapenaeus), Tôm rồng (Palinurus), Tôm hùm (Nephrops), bề bề (Ibacus), Tôm càng (Macrobrachium). Thịt T ngon, giàu chất dinh dưỡng. Thành phần hoá học T khô có: 12,6% nước, 75,6% protein, 3,8% lipit, 8% tro. T chế biến thành nhiều dạng thực phẩm được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng như T ướp đông, T khô bóc nõn, T luộc ướp đông, mắm tôm chua, bột đạm T... Phế liệu T (vỏ và đầu) được chế biến thành bột thức ăn chăn nuôi. Hằng năm Việt Nam có thể khai thác trên 40 nghìn tấn T biển các loại, chủ yếu bằng các loại nghề: lưới, kéo, rê, vây, đáy, bẫy, lặn... Nghề nuôi T (bằng giống tự nhiên hay giống sinh sản nhân tạo) đang được phát triển mạnh.