Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
HOA LƯ

kinh đô nước Đại Cồ Việt thời Đinh (968 - 980) và Tiền Lê (980 - 1009); ở xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình hiện nay. Kinh đô nằm trong một vùng có nhiều dãy núi đá vôi, các triều vua đã cho đắp 10 đoạn tường thành nối các núi đá, tạo nên thành HL với diện tích hơn 300 ha. Thành HL có hai vòng thành: Thành ngoại có 5 đoạn tường thành: đoạn 1 nối núi Đầm với núi Thanh Lâu, được gọi là "tường Đông"; đoạn 2 từ núi Thanh Lâu đến núi Cột Cờ; đoạn 3 từ núi Cột Cờ sang núi Chẽ; đoạn 4 từ núi Chẽ đến núi Chợ; đoạn 5 từ núi Mã Yên sang một núi khác. Thành nội cũng có 5 đoạn: đoạn 1 từ núi Hàm Sá đến núi Cánh Hàn; đoạn 2 từ Cánh Hàn đến núi Hang Tó; đoạn 3 từ núi Quèn Dót sang núi Mồng Mang, được gọi là "tường Bồ"; đoạn 4 từ núi Mồng Mang đến núi Cổ Giải, được gọi là "tường Bìm"; đoạn 5 đắp ngang thành nội. Các nhà khảo cổ đã đào một số đoạn tường thành. Ở những nơi này đều có móng thành bằng cành cây với nhiều cọc đóng xuống sâu. Phía trong của tường thành xây gạch, dày đến 0,45 m. Chân tường kè đá tảng và đóng cọc gỗ. Loại gạch phổ biến có kích thước 30 x 16 x 4 cm, thường có các dòng chữ "Đại Việt quốc quân thành chuyên" và "Giang Tây quân". Phía ngoài tường gạch là tường đất đắp rất dày. HL có di tích cung điện và những cột Kinh Phật thời Đinh, Tiền Lê, đền thờ Đinh Tiên Hoàng và đền thờ Lê Đại Hành, mộ Đinh Bộ Lĩnh trên núi Mã Yên. Có động Hoa Lư, bốn bề bọc núi, diện tích 5,76 ha, nay thuộc huyện Hoa Lư, cách HL khoảng 8 km về phía tây bắc, là căn cứ ban đầu của Đinh Bộ Lĩnh (khoảng năm 951).