Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
TRƯƠNG VĨNH KÝ

(cg. Pétrus Ký; 1837 - 98), học giả, nhà văn Việt Nam. Quê: thôn Cái Mỏn, xã Vĩnh Thanh, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long, nay thuộc tỉnh Bến Tre. Học trường đạo, thông thạo nhiều thứ tiếng (Hán, Latinh, Hi Lạp, Pháp, Anh, Nhật...). Năm 1860, sau khi Gia Định thất thủ, làm thông ngôn. Giám đốc Trường Thông ngôn (1863). Chủ bút tờ "Gia Định báo". Giáo sư Trường Hậu bổ (Collège des stagiaires) dạy Hán ngữ và Việt văn (1873). Ông viết rất nhiều sách, cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp, thuộc đủ loại: lịch sử, địa lí, ngôn ngữ, văn học, vv. Công lớn nhất của Trương Vĩnh Ký là sưu tầm, phiên âm các truyện Nôm và tác phẩm cổ Việt Nam: "Truyện Kiều" (1878), "Lục Vân Tiên" (1889), "Phan Trần" (1889), "Đại Nam quốc sử diễn ca" (1875), "Lục súc tranh công" (1887), "Chuyện đời xưa" (1886), "Chuyện khôi hài" (1882); và một số tác phẩm đương thời: "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" (1887), "Gia Định thất thủ vịnh" (1882), "Trung nghĩa ca" (1888). Viết "Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi" (1875), thiên bút kí đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ, lời văn bình dị, sát với ngôn ngữ nói, không có hơi hướng biền ngẫu. Đầu năm 1886, Pôn Be (Paul Bert) sang nhận chức Toàn quyền Đông Dương. Pôn Be là hội viên Hàn Lâm viện, quen biết và phục tài Trương Vĩnh Ký từ năm 1863 khi Ký theo Phan Thanh Giản sang Pháp nhằm chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Pôn Be mời ông cộng tác trong công vụ "canh tân hợp tác" các xứ Đông Dương, đặc biệt triều đình Đồng Khánh. Nhưng Pôn Be chết ngày 11.11.1886, ông thất sủng vì sự đố kị của giới chức Pháp thực dân chủ trương đồng hoá. Ông trở về viết sách, làm từ điển và ra học báo "Thông loại khoá trình" (Miscellannées) rất có giá trị.