Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
XOÀI

(Anacardiaceae; cg. Điều), họ cây gỗ, cây bụi, đôi khi cây leo thân gỗ. Lá mọc cách, đơn hay kép lông chim lẻ, không có lá kèm. Vỏ cây có nhiều ống dẫn nhựa. Hoa nhỏ mọc thành cụm hình chuỳ ở nách lá hay tận cùng. Hoa đều lưỡng tính (đôi khi đơn tính), mẫu 5. Quả phần lớn là quả hạch. Có 80 chi, gần 600 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và một phần trong vùng ôn đới. Việt Nam có 20 chi, 60 loài. Một số loài thường gặp: sơn (Toxicodendron succedanea) cho nhựa sơn, mọc nhiều ở Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái, Sơn Tây; muối (Rhus chinensis = Rhus semialata) lá có nhiều tanin dùng làm mực, thuộc da, làm thuốc; X (Mangifera indica) lấy quả ăn ngon ngọt, trồng nhiều ở Nam Bộ và hiện nay đã được trồng ở nhiều tỉnh Miền Trung và Miền Bắc Việt Nam; sấu (Dracontomelum mangiferum); dâu da xoan (Allospondias lokonensis); X nhừ (Spondias mangifera) có gỗ tốt. Đại diện là cây X (Mangifera), chi cây ăn quả nhiệt đới lâu năm. Cây to, cao 10 - 25 m. Lá đơn, nguyên, mọc cách, phiến lá hình thuôn mũi mác. Hoa hợp thành chùm kép ở ngọn cành, hoa có 5 cánh, màu vàng hơi đỏ, 5 nhị (nhưng chỉ 1 hoặc 2 nhị sinh sản), bầu thượng. Quả hạch to, hình thận, vỏ dai khi chín vàng xanh, thịt mọng nước, thơm ngọt. Hạch rắn, dẹt, chứa một hạt.

X có nhiều loài: X tượng (Mangifera indica), X tượng ở Trung Bộ thơm ngon, khác X tượng ở Nam Bộ; X voi, X cơm (M. cambodiana); X thanh ca (M. mekongensis). Phổ biến là các giống X cát, X gòn, X mật, X hòn. Ngoài ra, còn có những giống địa phương như X cà lăm, X lữ phụng tiên (cây cao đẹp), X ngựa, X hùm, X phổi, vv. X quéo thuộc loài Mangifera reba, cây to, quả dẹt và cong như có mỏ, hạch quả cũng cong; mọc hoang và được trồng ở Miền Trung và Miền Nam; quả ăn được, có vị chua. X hôi, còn gọi là muỗm, thuộc loài Mangifera foetida, quả bé hơn quả X, thịt ngọt chua, ăn được; trồng khắp nơi ở Việt Nam để lấy quả và lấy gỗ; ra hoa tháng 5 - 7 và từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. X ta có quả dài và dẹt, vỏ quả từ xanh chuyển sang vàng, ít khi có màu đỏ, thịt quả không có xơ, quả ngọt, ít chua, nhưng không thơm.

Phân bố rộng rãi ở các vùng nhiệt đới. Không phát triển được khi nhiệt độ trung bình tháng 1 (ở Bắc Bán Cầu) hay tháng 7 (Nam Bán Cầu) dưới 15oC; không chịu nổi giá rét trong vài giờ. Ở vùng nhiệt đới, trồng X ở độ cao trên 600 m không có lợi. X cần khí hậu gió mùa, với mùa mưa và mùa khô rõ rệt, phân hoá hoa vào cuối mùa mưa, ra hoa vào mùa khô. Mưa hằng năm ít nhất 1.000 mm, với mùa khô 4 - 6 tháng (mỗi tháng, mưa trung bình không quá 60 mm). Mưa trong thời kì ra hoa sẽ giảm mạnh sự thụ phấn và đậu quả. Đất trồng cần tránh đất sét nặng, bí, không thoát nước và đất cát quá khô. X thường trồng 4 - 6 năm mới ra quả (X ghép có thể ra quả sớm hơn) và cho quả nhiều dần đến 20 năm, sau đó giảm dần. Có hiện tượng năm được, năm mất xen kẽ nhau nhưng có thể khắc phục bằng cách chăm bón. Hướng chọn giống: chọn cây cho quả ngon thơm và thịt quả rất ít xơ, quả tròn, thịt dày, hạt dẹt. Gốc ở miền Đông Bắc Ấn Độ và Bắc Myanma, trên các vùng chân núi Himalaya, được gây trồng ở Ấn Độ từ 2000 năm tCn. Được trồng ở khắp Việt Nam nhưng chủ yếu ở Miền Nam để lấy quả. Quả chín có 85% nước, 10 - 20% đường, 4 mg% Ca, 4 mg% P, nhiều vitamin (vitamin C, caroten). Vỏ quả dùng chữa kiết lị, hoại huyết. Vỏ cây già có vị chát, đắng, dùng chữa sốt, đau răng, bệnh bạch đới, rong kinh. Lá chứa nhiều tanin, có thể sắc uống chữa ho sưng họng. Rễ có thể nấu để nhuộm vải. X là một trong những quả nhiệt đới ngon nhất.