Tìm kiếm mục từ trong bộ từ điển bách khoa (4 tập)
Từ khóa
Chuyên ngành
Địa lý
Giải nghĩa
XE ĐẠP

phương tiện vận tải có hai bánh, bánh sau được dẫn động bằng bàn đạp qua bộ truyền xích. Có các loại: XĐ thông dụng (nam, nữ) cỡ vành 650, 600, 660, 680,700; XĐ mini, XĐ trẻ em; XĐ đua (loại một người, loại xe tanđem hai người đạp); XĐ chuyên dụng (thồ, xiếc, lội nước). Còn phân loại: XĐ đường trường có khung bền chắc, lốp mặt cắt lớn, tay lái cao, nặng hơn 16 kg; XĐ đường ngắn, lốp có mặt cắt nhỏ, nhẹ hơn (khoảng 14 kg); XĐ du lịch, khung tháo gấp xếp lại dễ dàng; đặc biệt loại xe đua, khung xe được chế tạo bằng thép hợp kim hoặc đuyara nên khối lượng xe nhẹ (8 - 11 kg), tay lái hạ thấp, có cơ cấu thay đổi tốc độ (đĩa và líp nhiều tầng) và cụm phanh an toàn cao. Công nghiệp chế tạo XĐ Việt Nam đã hình thành từ những năm 30 thế kỉ 20, hiện nay có các nhà máy lớn sản xuất hàng loạt và các cơ sở vệ tinh sản xuất phụ tùng trong toàn quốc. Loại XĐ có kéo thùng chở hàng và XĐ có gắn máy (gọi là xe đạp điện) cũng mới được sử dụng và chế tạo rộng rãi.

Chiếc XĐ cổ nhất do Bá tước Xivrăc (de Sivrac; người Pháp) chế tạo, giới thiệu năm 1791 tại một khu vườn trong Hoàng cung (Palais - Royal; Pari, Pháp): xe ẩy chân, bằng gỗ, bao gồm một thanh xà mang bánh xe luôn đi trên một mặt phẳng và người cưỡi nó tiến lên bằng cách dùng chân luân phiên đạp xuống đất. Tuy nhiên, người được coi là ông tổ của XĐ là Nam tước Đraixơ (K. de Drais; người Đức). Năm 1817, Đraixơ đã chế tạo được một chiếc XĐ ẩy chân bằng gỗ, nổi tiếng với tên gọi là đrezen (draisienne - xe ẩy), có ưu thế hơn - bánh xe trước được gắn vào một trục đứng cho phép điều khiển (lái) xe đi. Mẫu xe của Đraixơ nhanh chóng được nhân rộng ở Anh và sau đó được sản xuất bằng sắt. Chiếc XĐ có giá trị thực dụng sớm nhất do một thợ rèn người Xcôtlen là Mac Milân (K. Mac Millan) phát minh (1839). Nhờ có nhiều phát minh - sáng chế phụ tùng, cơ cấu XĐ ngày càng được hoàn thiện theo hướng tiện lợi, an toàn và nâng cao tốc độ: XĐ do Misô (P. Michaux; người Pháp) và hai con trai của ông - Ecnet (Ernest) và Hăngri (Henri) chế tạo trên cơ sở kiểu xe đrezen đã được trang bị thêm bộ bàn đạp (pêđan, 1861), vành bánh xe (1868), đặc biệt cho phép lắp lốp đặc bằng cao su (XĐ bánh đặc). Chiếc XĐ của Ghinmê (Guilmet; thợ đồng hồ người Pháp) được coi là XĐ hiện đại đầu tiên (1869): xe được làm hoàn toàn bằng kim loại, các bánh xe có đường kính hầu như bằng nhau, bánh sau kéo với pêđan ở trung tâm xe. Ở Anh, Xtaly (J. Starley) đã nổi tiếng như một ông tổ của nền công nghiệp XĐ. Chiếc XĐ do Xtaly thiết kế (1870) có bánh xe trước rất to và bánh xe sau rất nhỏ; ông đặt tên cho nó là Penny - fadinh (penny - farthing: nghĩa đen là tên hai đồng xu bằng đồng cỡ to nhất và nhỏ nhất của nước Anh thời đó). Xtaly đã phát triển cơ cấu bánh răng cho phép bánh xe quay hai lần tương ứng với mỗi vòng quay của bàn đạp; làm nhẹ bánh xe bằng kết cấu căng nan hoa sắt, vv. XĐ được trang bị săm lốp rỗng chứa khí chế tạo lần đầu tiên năm 1888, là phát minh của thầy thuốc thú y Đănlơp (J. B. Dunlop; người Anh).